Chương 12: Đêm Mưa Rời Phố Cổ

Tiếng then cài bằng sắt dội ngược từ căn gác hai xuống khoảng giếng trời hun hút, đanh gọn và buốt lạnh.

Đàm Thiếu Quân đứng lặng nơi chân cầu thang gỗ lim, ngón tay vẫn vương mùi ngai ngái, nồng khô của mảnh sáp đỏ vừa vỡ vụn dưới tầng trệt. Ông đã không bước lên. Suốt hơn hai mươi năm thẩm định kỳ nam giữa rừng sâu, Quân hiểu rõ có những vết nứt một khi đã lộ ra dưới ánh sáng thì không thể dùng bất kỳ loại keo sáp nào hàn gắn lại trong chốc lát.

Cả ngày hôm đó, căn nhà cổ chìm trong sự câm lặng nặng nề. Quân không gõ cửa gác hai, chỉ lặng lẽ ra tiệm trước quán xuyến việc buôn bán, nấu bữa cơm chiều rồi nhắc Khải và Kim trông em An làm bài tập, giữ trật tự để chị Hai nghỉ ngơi. Khi buồng ngủ của ba đứa em ở tầng trệt tắt đèn, gian nhà rộng thênh thang chỉ còn lại tiếng mưa rả rích bắt đầu gõ lên mái ngói âm dương.

Ba giờ sáng.

Quân ngồi bất động bên chiếc bàn gỗ lim trong phòng trà tối om dưới tầng trệt. Ánh đèn đường nhợt nhạt hắt qua khe cửa chớp rạch những vệt dài trên nền gạch thẻ. Bằng khứu giác nhà nghề nhạy bén, Quân bắt được luồng hơi thở bất an quen thuộc thoảng mùi giấy bồi cũ kỹ và vị chua gắt của mồ hôi căng thẳng đang từ tốn trôi xuống theo kẽ hở cầu thang gỗ.

Tiếng chân trần giẫm lên từng bậc gỗ lim rất khẽ nhưng nặng trịch.

Quân không quay đầu lại, nhưng lưng áo ông khẽ căng lên. Diên đã đứng ở bậu cửa phòng trà, mái tóc buông xõa ngang vai. Trong bóng tối lờ nhờ, gương mặt cô nhợt nhạt, hai hốc mắt trũng sâu vì trọn một ngày đêm mất ngủ, nhưng đôi mắt to rực lên tia nhìn lạnh giá. Trên tay cô, bức thư mực tím đề mùa thu năm 2017 bị vò nhàu ở mép giấy, run rẩy theo từng nhịp thở ngắt quãng.

“Anh ngồi đây đợi tôi?”

Giọng Diên khàn đặc, hạ thấp xuống mức tối thiểu để không đánh thức ba đứa em đang say ngủ ở gian buồng bên cạnh, nhưng từng âm tiết đanh lại như mảnh thép nguội.

Quân khẽ thở ra một hơi dài, chầm chậm xoay người đối diện với cô “Tôi biết Diên sẽ xuống.”

Diên bước tới mép bàn, đặt mạnh bức thư nhàu nát xuống mặt gỗ. Tiếng giấy cọ ráp vang lên khô khốc trong gian phòng tĩnh mịch.

“Nói cho tôi biết,” Diên nhìn thẳng vào mắt Quân, hai hàm răng nghiến chặt kìm nén cơn chấn động trong lồng ngực. “Người đàn ông tên Đàm Thiếu Quân ba mươi bảy tuổi năm ấy... đã đóng vai trò gì trong câu chuyện này? Tại sao anh lại cùng ba tôi dựng nên nấm mồ giả trên sườn đồi Hội An?”

Quân nhìn mảnh giấy ố vàng nằm giữa hai người. Những con chữ mực tím ngoằn ngoèo của người phụ nữ dứt áo ra đi năm nào như những vết sẹo cũ bị xé toạc miệng. Ông không né tránh ánh nhìn của Diên. Gương mặt người đàn ông trung niên dạn dày sương gió phủ một tầng u tối, trầm tĩnh đến đau lòng.

“Năm đó, mẹ Diên rời đi sau một đêm mưa bão,” giọng Quân chậm rãi, trĩu nặng từng từ. “Bà ấy để lại bức thư này cùng toàn bộ giấy tờ tùy thân, cắt đứt liên lạc để theo một người đàn ông khác ra nước ngoài. Khi anh Phát tìm thấy thư, ông ấy quỵ ngã ngay trước cửa kho trầm, khóc đến mức nôn ra máu. Lúc đó, gia đình họ Mã đang gánh những món nợ thu mua phôi gỗ hàng chục tỷ đồng. Giới buôn trầm chỉ chực chờ một sơ hở là xâu xé kho hàng ba đời. Nhưng điều khiến anh Phát sợ hãi nhất là danh dự gia tộc sụp đổ, và bốn đứa con thơ dại phải mang vết nhơ suốt đời. Khi ấy Diên mới mười bốn tuổi, Khải mười tuổi, Kim bảy tuổi, còn thằng bé An mới chập chững biết đi. Anh Phát quỳ xuống trước mặt tôi, van xin tôi giúp ông ấy giữ lấy chút ký ức trong sạch về một người mẹ cho các con.”

“Cho nên hai người quyết định chôn sống một người còn sống?” Diên bật ra tiếng cười méo mó, cay đắng tột cùng. “Anh am hiểu luật pháp, anh có quan hệ ở Đà Nẵng, nên đã đứng ra làm giấy tờ khai tử giả, mua chuộc người xác nhận tai nạn, rồi cùng ba tôi chở chiếc quan tài rỗng lên sườn đồi, đúng không?”

Quân siết chặt hai bàn tay trên đùi. Lời chất vấn của Diên như từng nhát búa nện thẳng vào lồng ngực ông.

“Phải,” Quân trầm giọng thừa nhận, không một lời biện minh. “Hồ sơ tai nạn xe khách tại Đà Nẵng năm ấy, nấm mồ đá hoa cương trên đồi ngoại ô... toàn bộ thủ tục pháp lý là do tôi trực tiếp đi thu xếp. Anh Phát muốn các con tin rằng mẹ mình đã ra đi trong một tai nạn bất khả kháng, để bốn chị em Diên không phải lớn lên trong nỗi mặc cảm bị người mẹ ruột thịt ruồng bỏ.”“Bảo bọc ư?”

Diên lùi lại nửa bước, ánh mắt nhìn Quân từ đau đớn chuyển dần sang sự xa lạ lạnh buốt “Suốt bảy năm qua, tôi đã sống như một kẻ ngốc. Mỗi chiều rằm tháng mười, tôi dẫn ba đứa em lên sườn đồi quỳ trước nấm mồ rỗng tuếch ấy khóc cạn nước mắt, cắn răng gác lại ước mơ để thay mẹ gánh vác gia đình. Trong khi đó, anh đứng nhìn. Anh đến nhà tôi ăn cơm, ngồi uống trà với ba tôi, nhìn chị em tôi thờ phụng một nấm mồ giả mà trong lòng không hề gợn một chút cắn rứt nào sao?”

“Tôi có cắn rứt, Diên à,” giọng Quân khẽ run lên—một sự dao động hiếm hoi ở người đàn ông vốn sắt đá trước mọi biến cố thương trường. “Bảy năm qua, chưa một ngày nào tôi thanh thản. Nhưng lời hứa với người sắp chết... lời ủy thác của anh Phát trước khi nhắm mắt ở phòng cấp cứu... tôi không thể bội ước.”

“Đủ rồi.”

Diên ngắt lời ông. Không có tiếng gào thét, không có những giọt nước mắt giàn giụa. Sự phẫn uất đã cô đặc lại thành một khối băng giá vĩnh cửu trong đáy mắt cô gái trẻ “Tôi không cần nghe thêm bất kỳ lý lẽ nào nữa. Tôi không thể tiếp tục thở chung một bầu không khí, không thể sống chung dưới một mái nhà với một người đã đồng lõa lừa dối chị em tôi suốt ngần ấy năm. Bản hôn ước một năm này... sự giúp đỡ của anh... tất cả đều khiến tôi thấy nghẹn ứ. Anh đi đi. Rời khỏi ngôi nhà này ngay đêm nay.”

Quân sững sờ. Đôi mắt nâu sẫm của ông nhìn chăm chú vào gương mặt cương nghị nhưng tràn ngập vết rạn của Diên. Thấu hiểu nỗi tổn thương sâu sắc ấy, ông không biện hộ thêm một lời nào. Mọi lý lẽ về sự che chở lúc này đều trở nên bất lực trước nỗi đau bị phản bội.

Quân khẽ nhắm mắt lại trong giây lát, rồi chầm chậm đứng dậy “Được. Tôi đi.”

Ông không nán lại thêm. Quân quay bước về phía gian chái phụ cạnh kho trầm. Dưới ánh sáng lờ nhờ của chiếc đèn pin nhỏ, ông mở chiếc túi du lịch bằng vải bạt sờn cũ, xếp vào đó vài bộ quần áo đũi mộc mạc. Toàn bộ hành lý của một người đàn ông bốn mươi bốn tuổi chỉ gói gọn trong một chiếc túi đơn sơ, nhẹ bẫng như chính sự hiện diện của ông trong căn nhà này suốt thời gian qua.

Trở lại gian phòng trà, cạnh bức thư nhàu nát của bà Tố Nga, Quân cẩn thận đặt xuống cuốn sổ bìa cứng ghi chép toàn bộ dòng tiền thu chi của tiệm trầm cùng chiếc chìa khóa bằng đồng thau sáng bóng “Đây là sổ sách thu chi từ ngày anh Phát nằm viện, tiền bán phôi hoàng kỳ hôm trước tôi đã nộp đủ vào tài khoản ngân hàng mang tên Diên. Tôi trả lại chìa khóa kho bảo mật. Nhiệt độ trong kho luôn phải giữ ở mức hai mươi ba độ, độ ẩm dưới sáu mươi phần trăm. Mỗi trưa, Diên nhớ xuống kiểm tra ẩm kế. Lô phôi dó bầu ngoài góc trái rất dễ mốc nếu gặp gió mùa ẩm.”

Diên đứng quay lưng về phía ông, hai bàn tay buông thõng siết chặt lấy gấu áo, bờ vai gầy khẽ run lên nhưng tuyệt nhiên không ngoái đầu nhìn lại.

Quân lặng lẽ ngắm nhìn bóng lưng cô độc ấy lần cuối. Ông nhấc túi hành lý lên vai, sải bước ra gian nhà trước. Tiếng then gỗ khép lại sau lưng phát ra một âm thanh khô khốc, nặng nề ngăn cách hai thế giới.

Ngoài ngõ nhỏ phố cổ Hội An, màn đêm tháng mười buốt lạnh đến thấu xương. Cơn mưa rào chuyển dần thành mưa phùn rả rích trên những mái ngói âm dương rêu phong. Gió từ sông Hoài thốc ngược vào lòng ngõ hẹp, mang theo vị mặn mòi tanh nồng của bùn nước và hơi lạnh buốt giá.

Quân dừng bước nơi ngã ba đầu ngõ, bàn chân khựng lại trên phiến đá ướt sũng. Phía sau lưng ông, căn nhà cổ chìm nghỉm giữa màn đêm tĩnh mịch, chỉ duy nhất trên tầng cao còn le lói một đốm sáng nhỏ nhoi.

Đứng dưới làn mưa buốt lạnh nhìn lên khung cửa sổ căn gác hai vẫn hắt ra ánh sáng vàng vọt, Quân kéo sụp cổ áo khoác, cay đắng nhận ra bức tường ông dày công gìn giữ suốt bảy năm cuối cùng lại chôn vùi chính mình.

Bạn thích truyện này?

Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!

Hãy là người đầu tiên để lại đánh giá cho tác phẩm này.