Chương 9: Lưới Hận Phong Tỏa

Tiếng tri hô xé toạc màn sương muối đặc quánh. Đan siết chặt cây gậy trong tay, nương chân phải tập tễnh lao vội từ bậu cửa ra mép bãi. Ngoài mép bãi bờ tây, ngọn lửa đỏ rực bốc cao cùng mùi dầu rái khét lẹt. Hai chiếc thuyền nan gác trên triền cát đã bén lửa, tàn tro bay rào rào sang chiếc thứ ba nằm kề bên.

— Lấy cát! Mau xúc cát hắt vào mạn thuyền! Đừng dội nước kẻo váng dầu loang rộng! — Đan vừa lao tới vừa thét lớn.

Lão Ba Thao cùng đám trai tráng lập tức nhào tới mép bãi. Thằng Cò thoăn thoắt hắt cát khô vào lòng thuyền, cô Lành bưng từng sọt cát ướt đắp trùm lên vệt dầu đang sôi sùng sục. Đan cắn răng chịu buốt ở khớp gối, vốc từng tảng cát nén chân lửa. Sau tàn nén nhang, đám cháy mới chịu tắt ngấm dưới lớp cát dày. Hai chiếc thuyền nan bị thủng một mảng lườn cháy sém, chiếc thứ ba nám đen lớp dầu chai nhưng khung giằng còn nguyên vẹn.

Chưa kịp thở phào, ngoài lộng biển cách bờ nửa dặm, chiếc ghe bầu của họ Tiền thắp sáng ánh đuốc. Cai bến Cửu Vằn khoanh tay đầu mũi, đoản đao bên hông sáng quắc, cất tiếng cười sằng sặc át sóng — Lũ cá chết Cồn Cát nghe cho rõ đây! Lão gia tao có lòng tốt sang mua muối trừ nợ mà chúng mày dám cự tuyệt! Đêm nay chỉ là chút tàn tro dằn mặt! Kể từ giờ, bản bến cấm tiệt ghe thuyền ra vào đảo! Không một cọng rau, một hạt gạo nào từ đất liền lọt qua mũi thuyền của Tiền gia đâu! Muốn giữ muối thì cứ ôm đống muối trắng ấy mà nhai thay cơm!

Tiếng cười hô hố của Cửu Vằn dội qua mặt nước đen ngòm rồi chìm dần khi chiếc ghe bầu rẽ sóng tháo lui trong đêm.

Lão Ba Thao uất nghẹn siết chặt cán dầm sứt sẹo: — Đồ súc sinh tàn độc! Đốt thuyền, cắt đường ăn của cả làng!

Đan bước lại gần, đặt tay lên vai lão Trùm vạn, giọng điềm đạm mà đanh thép: — Bác Ba bớt giận. Chúng đốt thuyền cốt làm ta hoảng loạn rồi tự dâng muối nộp mắm. Chúng sợ hạt muối sạch của ta sẽ phá vỡ thế độc quyền ép giá bao năm qua.

Lời rành rẽ của Đan xoa dịu cơn giận của dân làng. Thế nhưng, đòn thù thâm hiểm của Tiền Bá Đạt nhanh chóng bộc lộ sức tàn phá khủng khiếp.

Trời vừa hửng sáng, hai chiếc ghe bầu lớn của họ Tiền đã buông neo sừng sững ngoài lộng, phong tỏa con đường biển độc đạo từ Cồn Cát về bến Vĩnh Thông. Mọi thuyền bè từ đất liền chở ngô khoai, tương cà hay mớ rau xanh ra đảo đều bị đám tay sai xua đuổi, kẻ nào kháng cự liền bị dọa đâm thủng lườn thuyền dìm xuống đáy biển. Hòn đảo cát trơ trọi giữa muôn trùng sóng gió rơi vào cảnh nội bất xuất, ngoại bất nhập.

Hạn ba ngày trả nợ trôi qua trong tiếng sóng gầm, Tiền Bá Đạt không vội sang cưỡng chế mà thâm độc dùng lưới phong tỏa bóp nghẹt hòn đảo. Năm ngày, rồi bảy ngày trôi qua.

Kho lương nghèo cạn kiệt đáy bồ. Những chum vại sành muối tạm trước đó dẫu giữ được cá tươi nhưng chẳng thể thay thế cho hạt cơm lót dạ. Nhà khá giả chỉ còn vài mẩu sắn mốc; nhà nghèo phải đào rễ rau muống biển, vớt rong dạt bờ nấu nước nuốt nghẹn qua ngày. Đến ngày thứ bảy của lệnh phong tỏa, giữa trưa nắng gắt, tiếng trẻ con khóc ngặt nghẽo vì đói lả vẳng ra từ xóm dưới, hòa cùng tiếng thở dài thườn thượt của những người mẹ bên bếp lửa lạnh tanh.

Bên góc lán xưởng, vài bác bạn chài lớn tuổi ngồi bệt xuống cát, ôm đầu rầu rĩ: — Bác Ba ơi… hay là mình nhượng bộ Tiền viên ngoại? Bán đống muối trắng, dâng giàn thùng chượp ấy đi để đổi lấy vài thuyền gạo cứu lũ nhỏ. Cứ nhịn đói thế này, chưa đợi giọt mắm rỏ ra thì cả làng đã phơi xương…

Không khí trong lán lập tức chùng xuống nặng nề. Vài ánh mắt nhìn sang Đan áy náy nhưng không giấu nổi sự dao động. Cái đói cồn cào đang từng khắc gặm nhấm ý chí của những con người quen ăn sóng nói gió.Lão Ba Thao sầm mặt toan mắng thì Đan đã khẽ bước lên. Anh nhìn khắp lượt bà con nghèo khó, rồi hướng về miếu thờ tổ nghề chài lưới sát chân rặng phi lao: — Xin bà con theo con lại miếu tổ.

Trước bệ đá rêu phong nghi ngút khói nhang trầm, Đan đứng thẳng lưng dù chân phải tật nguyền nhức buốt. Anh kính cẩn vái bài vị tiền nhân rồi xoay người nhìn vạn chài.

Giọng Đan trầm ấm, vang vọng giữa tiếng sóng rì rào: — Thưa bà con, các cô chú! Tiền Bá Đạt phong tỏa bến lộng không phải vì ba trăm quan tiền kẽm. Lão muốn bẻ gãy manh chiếu thờ của vạn chài, muốn đời con cháu chúng ta muôn đời đợ nợ cho kho muối của lão! Nay ta nộp giàn chượp, lão sẽ ném cho vài đấu gạo thí. Nhưng ăn hết mấy đấu gạo ấy rồi, vụ sau ta lấy gì nuôi con? Hay lại tiếp tục gán nợ con thơ, bán thuyền bán lưới?

Đan đưa bàn tay chai sần chỉ ra biển cả: — Biển cả và doi cát này hào phóng dâng cá tươi muối trắng, chưa từng triệt đường sống của người biết chung lưng đấu cật! Chỉ lòng tham kẻ ác mới muốn dìm ta vào chỗ chết. Năm thùng chượp ngoài kia đang ủ từng thúng cá tươi, muối trắng trên sàn tre đang từng ngày xả hết nước ót đắng. Đã đi tới đây, chỉ cần vạn chài đồng lòng chia ngọt sẻ bùi, nhịn miếng ăn hôm nay để đổi lấy sinh kế ấm no ngàn đời cho con cháu!

Lão Ba Thao bước tới vỗ mạnh vai Đan, mắt quắc thước rực lửa: — Thằng Đan nói trúng bụng tao! Lão già này thà ăn rễ cây chứ quyết không quỳ gối trước lũ hút máu người! Từ nay ai nhắc chuyện đầu hàng thì đừng nhìn mặt tổ nghề nữa!

Cô Lành bước lên, mắt lấp lánh niềm tin: — Nhà em còn nửa rổ khoai khô, trưa nay em đem nấu cháo loãng với đọt rau rừng chia cho các cháu nhỏ trước!

Bà con lặng đi một khắc rồi đồng loạt ngẩng đầu. Những giọt nước mắt lăn dài trên gò má sạm đen, sự dao động tan biến nhường chỗ cho ngọn lửa kiên cường của dân miền biển. Tiếng hô đồng lòng cất lên, xua tan nỗi sợ hãi đang đè nặng.

Dân làng tản đi tìm rau dại, Đan vẫn đứng lặng bên mép sóng. Lòng anh trĩu nặng âu lo. Ý chí có thể giữ vững tinh thần, nhưng thân xác không thể sống mãi bằng lòng quyết tâm. Cần phải có nguồn lương thực thực tế trước khi bọn trẻ kiệt sức, trong khi lối ra bến Vĩnh Thông đã bị khóa chặt.

Gió biển thổi tung vạt áo chàm bạc phếch. Đan chống gậy nhìn xa xăm, trăn trở tìm lối thoát giữa muôn trùng bế tắc.

Bỗng tiếng chân huỳnh huỵch trên cát vang lên. Thằng Cò từ triền dốc phía sau miếu chạy thục mạng tới, người đẫm mồ hôi, thở không ra hơi. Nó lao đến nắm chặt lấy cánh tay Đan, hàm răng sún cười tươi rói: — Anh Đan! Anh Đan ra đây mau!

Đan ngạc nhiên nhìn đứa em nhỏ: — Có chuyện gì vậy Cò?

Thằng Cò giơ cánh tay gầy nhẳng chỉ thẳng về phía rìa đông hòn đảo — nơi những rạn đá ngầm đen trập trùng đang nhấp nhô giữa muôn ngọn sóng bạc đầu gầm gào dữ dội.

Đôi mắt thằng bé sáng rực lên: — Phía rạn đông… có lối đi, anh Đan ơi! Có lối vượt biển mà thuyền bọn họ Tiền không bao giờ dám tới!

Bạn thích truyện này?

Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!

Hãy là người đầu tiên để lại đánh giá cho tác phẩm này.