Chương 10: Lối Ngầm Rạn đông
Đan nheo mắt nhìn theo ngón tay gầy guộc của thằng Cò. Phía rạn đông, từng dải đá ngầm đen trập trùng nhô lên khỏi mặt biển như hàm răng cá kình, bọt sóng đánh vào vách dựng đứng tung trắng xóa, tiếng gầm vang rền át cả gió biển. Đó là nơi hiểm trở bậc nhất đảo Cồn Cát, bao đời nay ngư phủ chỉ dám ngắm từ xa chứ không ai dại dột ghé thuyền lại gần.
Lão Ba Thao vừa dặn dò mấy bác bạn chài xong xuôi, nghe tiếng hét cũng chống cây đòn tay đi tới. Lão cau mày, gằn giọng: — Thằng Cò, chớ có nói bậy! Rạn đá đó đến rái cá còn trầy da tróc vảy, đá ngầm sắc như dao cạo, thuyền bè nào lách qua cho nổi? Năm kia có chiếc ghe con lỡ sa chân vào đấy bị sóng quật nát vụn thành dăm bào, mày quên rồi à?
Thằng Cò sốt sắng lắc đầu quầy quậy, hai bàn tay níu chặt vạt áo Đan: — Cháu không nói bừa đâu ông bác Ba! Mấy bận triều cạn, cháu lội bắt ốc nhảy mé dưới chân vách, thấy nước rút để lộ ra một con lạch sâu hun hút. Đáy lạch toàn cát mịn, sâu lút đầu người nhưng hai bên vách đá che chắn sóng gió êm ru. Thuyền nan đáy nông lách vừa khít qua đó để ra lộng ngoài, ghe bầu to xác của họ Tiền mà mò tới chỉ có nước vỡ lườn tan xác!
Đan khẽ siết vai thằng Cò. Lời đứa trẻ không hề có vẻ thêu dệt. Bản năng của loài rái cá cát bao giờ cũng nhạy bén với từng ngóc ngách hiểm hóc nhất của biển khơi. Anh quay sang lão Ba Thao, ánh mắt kiên định: — Bác Ba, ghe buôn họ Tiền đang phong tỏa cửa biển phía tây, dẫu có đóng lại thuyền nan ta cũng không thể phá vây giữa ban ngày. Nếu rạn đông thật sự có lối ngầm, đó chính là đường sống của cả vạn chài. Con với bác cùng thằng Cò ra xem thử một chuyến.
Lão Ba Thao nhìn nét mặt quả quyết của Đan, ngực lão phập phồng rồi gật mạnh: — Được! Để tao xách theo mái chèo dò đáy. Đi ngay khi con nước kém còn chưa rút hết!
Ba người men theo triền cát dốc ngược về mạn đông. Gió bấc thổi thốc vào mặt mang theo hơi nước mằn mặn phả rát rạt. Đan chống chiếc gậy tre, nén từng cơn nhức buốt từ khớp gối phải mỗi khi bước giẫm lên đá dăm lởm chởm. Càng tiến sát mép rạn, tiếng sóng vỗ vào vách đá càng đanh gọn, dữ dội như sấm rền.
Thằng Cò nhanh như sóc, thoăn thoắt tụt xuống gộp đá hình vòm cung rồi vẫy tay rối rít: — Lối này, anh Đan! Cẩn thận trượt chân dính hà gai!
Đan và lão Ba Thao lội xuống mép nước lạnh ngắt dâng ngang hông. Luồng nước ngoài rạn cuộn xoáy ngầu bọt, nhưng vừa lách qua một khe đá hẹp hình nanh cọp, cảnh tượng trước mắt khiến hai người không khỏi sững sờ. Nấp sau bức tường thành đá hoa cương sừng sững là một con lạch nước xanh biếc, mặt nước phẳng lặng như gương. Lạch rộng chừng hơn một trượng, uốn lượn men theo chân vách núi rồi mở thẳng ra khoảng biển sâu phía ngoài khơi xa.
Lão Ba Thao dùng cán chèo cắm sâu xuống nước dò dẫm, mắt lão sáng bừng lên: — Đáy cát không có đá tai mèo! Nước sâu ngang ngực, luồng chảy xuôi chiều. Lườn ghe bầu họ Tiền ăn nước sâu cả trượng thì đụng đá ngay từ ngoài cửa vịnh, nhưng thuyền nan một mái chèo của làng mình trét dầu chai chỉ mớn nước hơn đốt ngón tay, ban đêm giong buồm lướt êm qua đây thì trời cũng không thấy!
Đan thở phào nhẹ nhõm, tảng đá đè nặng trong lồng ngực bấy lâu dường như được nhấc bớt một nửa. Con lạch này chính là con đường huyết mạch bí mật. Khi thuyền nan hư hại ở bờ tây được sửa xong, vạn chài có thể men theo đây luồn ra biển lớn, vượt sang các bến lộng lân cận để đổi muối lấy gạo mà không sợ đám tay sai của Tiền Bá Đạt chặn đường.
Tuy vậy, Đan hiểu rõ việc sửa thuyền và tích trữ đủ muối già để đem đi buôn chuyến vượt sóng cần thêm vài tuần trăng nữa. Trước mắt, cái bụng đói của người già con trẻ trong làng không thể đợi lâu. Đan nhìn quanh vách đá rạn đông, nơi những khóm rêu biển xanh rì bám chặt vào khe nứt, phía trên gò đất thoai thoải là bạt ngàn dây leo xanh mướt chằng chịt rủ xuống.
Đan chỉ tay lên sườn gò: — Bác Ba coi, trên triền gò kia dây mài mọc ken đặc. Dưới chân rạn đá này ốc gai với cá đục vào nấp sóng đầy các hốc nước. Ta chưa thể đi biển xa ngay hôm nay, nhưng biển và gò đá này thừa sức nuôi vạn chài qua tuần đói kém!
Lão Ba Thao vỗ đùi đánh đét: — Đúng rồi! Xưa nay dân mình chỉ quen ngóng ra bãi cát kéo lưới cơm, nào mấy ai để ý mớ thức ăn dưới chân gộp đá hiểm này!Trở về lán xưởng, Đan lập tức tập hợp thanh niên và phụ nữ trong xóm chài. Anh phân công rõ ràng: toán trai tráng vác choang, xẻng cùng lão Ba Thao trèo lên triền gò đào củ mài và hái ngọn rau bổi, rau sam biển; cánh phụ nữ dắt theo lũ trẻ mang giỏ tre men theo các vụng đá cạn cạy ốc gai, giăng lưới bén bắt cá đục.
Chỉ trong một buổi chiều, không khí ảm đạm bao trùm vạn chài bấy lâu đã bị xua tan bởi tiếng cuốc đào đá chan chát và tiếng reo hò rộn rã của lũ trẻ. Những củ mài béo múp, ruột trắng nõn nà nứt vỏ sau lớp đất sỏi được gùi từng thúng mang về. Dưới các vũng đá cạn, từng mớ cá đục tươi rói vảy óng ánh bạc cùng những giỏ ốc gai béo mẫm được chuyền tay nhau đưa lên bờ.
Đan đứng bên bờ bãi kiểm tra từng giỏ thức ăn, căn dặn người chia phần: — Gom hết lại một chỗ rồi chia đều theo miệng ăn từng nóc nhà. Nhà nào neo đơn, có con mọn hay người già đau yếu thì thêm nửa thúng củ mài. Tuyệt đối không ai được giấu riêng, vạn chài phải cùng no thì mới cùng giữ được giàn thùng.
Chiều buông xuống mép cồn, hoàng hôn nhuộm đỏ rực mặt biển bao la. Giữa khoảng sân rộng cạnh năm thùng chượp gỗ bời lời sừng sững, một chiếc chảo gang ba chân khổng lồ được bắc lên bếp đá dã chiến. Lành cùng các bà, các chị thoăn thoắt gọt vỏ củ mài, giã dập thả vào nồi nước biển pha loãng nấu sôi lục bục. Cá đục tươi vừa đánh lên được làm sạch ruột, ướp chút muối hạt khô ráo rồi thả vào chảo cháo đang sôi trào bọt trắng.
Hơi cháo bốc lên nghi ngút, quyện lẫn vị bùi ngọt đậm đà của củ mài rừng, vị béo ngọt của thịt cá tươi và mùi thơm the mát của nắm rau bổi băm nhỏ.
Thằng Cò bưng bát sành mẻ miệng húp xùm xụp, hai má phồng lên vì nóng, miệng cười toe toét: — Ngon quá anh Đan ơi! Bùi hơn cả cơm gạo trắng ngoài chợ huyện!
Bà con xúm xít quanh bếp lửa hồng, mỗi người cầm một chiếc gáo dừa hay bát đất đón nhận phần cháo ấm nồng. Những gương mặt hốc hác, nhợt nhạt sau chuỗi ngày nhịn đói nay dần ửng hồng trở lại. Mấy bác bạn chài từng dao động toan đầu hàng họ Tiền nay cúi gằm mặt húp cháo, khóe mắt rưng rưng vì hổ thẹn lẫn cảm kích. Không ai còn nhắc đến chuyện bán muối hay dâng nộp giàn chượp. Giữa gian nan, miếng ăn chia đều trong hoạn nạn đã kết chặt sáu mươi nóc nhà lại thành một khối vững như đá bàn.
Đêm về khuya, gió ngoài khơi bắt đầu thổi lộng mang theo hơi lạnh se sắt. Xóm chài đã chìm vào giấc ngủ yên bình sau bữa cháo ấm bụng.
Đan thắp sáng ngọn đèn chai chắn gió, chống gậy tập tễnh đi quanh giàn thùng gỗ bời lời để kiểm tra chốt nẹp. Đai mây vẫn ôm siết lấy thân gỗ, vỉ tre gài nén phẳng phiu, các lỗ lù đáy thùng được nút chặt không rỉ một giọt nước bổi.
Lành bước tới bên cạnh, đưa cho Đan chiếc áo tơi lá khô và một bát nước râu ngô ấm: — Anh Đan, sương muối đêm nay lạnh lắm. Chân anh còn nhức, để em canh thùng cho, anh vào lán chợp mắt một lát đi.
Đan đón lấy bát nước, mỉm cười nhìn ánh mắt ân cần của cô gái trẻ dưới ánh đèn le lói: — Anh không sao, quen rồi. Giàn thùng này là mồ hôi nước mắt của cả vạn chài, lơ là một khắc là không yên bụng được.
Hai người vừa bước đến khoảng tối phía sau dãy thùng chượp thứ năm thì Đan bỗng khựng lại. Anh giơ tay ra hiệu cho Lành đứng im, bàn tay lập tức che bớt miệng đèn chai.
Trong tiếng sóng vỗ bờ cát rì rào, một chuỗi âm thanh lạo xạo rất khẽ vang lên ngay sát chân vách lán — tiếng bước chân ai đó đang rón rén giẫm trên cát khô. Cùng lúc ấy, một mùi dầu thông hăng hắc, nồng nặc xộc thẳng vào mũi Đan giữa làn gió đêm.
Bạn thích truyện này?
Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!
