Chương 18: Trụ Vững Qua đông

Cơn cuồng phong rốt cuộc cũng lùi dần ra ngoài khơi xa, để lại bãi cát Thạch Bàn trong một sớm mai lạnh buốt. Thế Đan nhọc nhằn nhấc bàn tay cứng đờ khỏi chiếc nút lù bọc vải gai nơi đáy cỗ thùng cái. Nước biển mặn chát ngâm suốt đêm dài khiến da thịt anh tái nhợt, những ngón tay co quắp lại vì cóng. Phải đến khi hai bàn tay ấm nóng của Lành run run áp vào mu bàn tay anh, Đan mới cảm nhận được chút hơi ấm từ từ len lỏi trở lại.

— Anh Đan! Đứng lên được không anh? — Giọng Lành nghẹn lại, khóe mắt hoe đỏ vì thức trọn đêm bão.

Lão Ba Thao cũng bước vội tới, cánh tay vạm vỡ sạm đen ghì lấy nách Đan, đỡ anh tựa vào bờ vai vững chãi của mình: — Thong thả thôi con. Giữ được giàn thùng rồi, giữ được rồi! Chân cẳng thế này thì chớ có gắng gượng.

Đan gượng cười, cắn chặt môi nén cơn buốt nhói chạy dọc từ bên chân tật lên đến thắt lưng. Dựa vào chiếc gậy tre thằng Cò vừa hớt hải nhặt mang lại, anh từ từ đứng thẳng dậy, đưa mắt nhìn quanh toàn cảnh đảo Cồn Cát.

Trời rạng sáng xám xịt một màu chì u ám. Trận cuồng phong càn quét suốt bốn canh giờ đã để lại cảnh tượng hoang tàn đến nhói lòng. Dọc theo triền cồn, hơn một nửa trong số sáu mươi nóc nhà tranh của vạn chài Thạch Bàn đã bị gió giật tung sạch mái, phên nứa vỡ toang hoác, trơ trọi những hàng cột nẹp xiêu vẹo giữa gió rét. Rặng phi lao và những khóm dứa dại chắn cát bị quật tơi tả, cành lá gãy gục nằm la liệt trên mặt cát ướt sũng phù sa và rác rến biển.

Dưới chân gò đá cao, những chiếc thuyền nan tuy may mắn không bị sóng cuốn phăng ra biển nhờ dây chão chằng néo, nhưng nhiều chiếc đã bị cành cây quật vỡ be thuyền, ván mạn nứt toác, trơ cả nan tre dập nát.

Đau lòng hơn cả, ngoài khơi lộng, mặt biển không hề có dấu hiệu lặng sóng. Gió bấc từ phương bắc ùa về từng đợt hun hút, thổi dựng những cột sóng bạc đầu gầm thét dữ dội, chồm lên bãi rạn ngoài xa như bầy ngựa dữ lồng lộn. Mùa biển động khắc nghiệt nhất trong năm đã chính thức mở màn. Không một chiếc ghe bầu nào từ đất liền có thể vượt sóng ba canh giờ ra đảo, và cũng chẳng chiếc thuyền nan nào của vạn chài có thể dấn mình ra khơi. Doi cát Cồn Cát hoàn toàn bị cô lập giữa bốn bề sóng dữ.

Những ngày sau đó, mùa đông trút xuống đảo Cồn Cát sự khắc nghiệt vượt ngoài sức tưởng tượng. Biển động kéo dài ròng rã suốt hai tháng trời, sóng gió gầm thét không một ngày ngơi nghỉ. Bầu trời quanh năm phủ kín những dải mây đen nặng trĩu hạt mưa phùn lạnh giá.

Cái đói bắt đầu gõ cửa từng mái lều xơ xác. Nguồn gạo dự trữ ít ỏi mà sáu mươi nóc nhà chắt bóp từ vụ cá trước cạn dần theo từng bữa ăn. Những chiếc bồ đan bằng tre nứa dưới gầm giường dần trơ đáy. Bát cơm trắng ấm lòng thuở nào nhường chỗ cho những nồi cháo loãng nấu chung với cọng rau dại, loãng đến mức soi rõ từng khuôn mặt hốc hác, nhợt nhạt của dân chài.

Tiếng trẻ con khóc lả vì đứt bữa vang lên xót xa trong những đêm đông rét mướt. Đáng sợ hơn cả, cái rét luồn qua khe liếp cùng sự thiếu thốn muối ăn và thức ăn tươi lâu ngày khiến nhiều người già trong vạn chài bắt đầu xuất hiện triệu chứng phù thũng. Đôi bàn chân của những lão ngư từng dọc ngang sóng gió giờ đây sưng mọng, da căng bóng như bọng nước, ấn một ngón tay vào là lõm sâu một hố mãi không chịu đàn hồi trở lại.

Chứng kiến vạn chài chìm dần trong kiệt quệ, Đan không cho phép mình buông xuôi. Dù mỗi khi trở trời gió bấc, khớp chân bị tật lại đau buốt như có hàng trăm mũi kim châm, anh vẫn kiên trì chống gậy đi đến từng nhà, rồi tập hợp dân làng tại sân miếu tổ nghề.

— Biển bãi trước bị phong tỏa, nhưng lạch rạn đá ngầm phía đông vẫn còn lối sống! — Đan cất giọng đanh gọn, ánh mắt sáng rực ngọn lửa quả quyết giữa không gian u ám — Chúng ta không thể ngồi chờ chết đói. Phường chượp chia làm ba nhóm: cánh thợ mộc theo bác Ba sửa lại phên nứa, đắp lại mái tranh che gió cho người già; cánh phụ nữ cùng cô Lành lên sườn gò Đá Đỏ bới củ chuối rừng, đào củ mài; còn trai tráng theo tôi và thằng Cò men qua lạch ngầm rạn đông tìm thức ăn biển.

Thằng Cò nhanh nhảu vác chiếc giỏ tre sứt cạp, đôi mắt sáng lấp lánh: — Em thuộc từng hốc đá mé ấy! Sóng lớn ngoài lộng không đánh vào được chân vách đâu anh Đan!

Thế là giữa mùa đông buốt giá, những con người gầy guộc lại bám lấy nhau tìm đường sinh tồn. Lạch rạn đá ngầm phía đông hiểm trở, nước dâng ngập ngang ngực nhưng nhờ dải đá tai mèo che chắn, sóng lớn ngoài khơi bị bẻ gãy thành những dòng xoáy êm ả dưới chân vụng. Dưới sự dẫn dắt của Đan và thằng Cò, bà con lội qua làn nước lạnh buốt, lần mò cạy từng con ốc gai bám chặt vào vòm đá ngầm, soi từng con cá đục, cua đá trốn rét trong kẽ nứt. Phía trên bờ, Lành cùng cánh phụ nữ miệt mài bạt từng gốc củ chuối rừng, bóc lấy phần nõn trắng chát xít đem ngâm nước biển cho bớt mủ, rồi đào bới từng khúc củ mài vùi sâu dưới tầng sỏi đỏ.

Đêm về, ngọn lửa hồng tại bếp chung miếu tổ lại bập bùng cháy, xua tan cái giá lạnh thấu xương của mùa đông biển đảo. Nồi cháo củ chuối rừng luộc chung với ốc gai và rau bổi sủi bọt ùng ục, tỏa ra mùi ngai ngái nhưng ấm sực tình người. Mọi miếng ăn tìm được đều gom về một mối, chia đều cho từng miệng ăn trong sáu mươi nóc nhà, ưu tiên người già phù thũng và con trẻ trước nhất.

Lành bưng đến bên Đan một chiếc bát sành sứt mẻ, bên trong có hai mẩu củ mài luộc thơm bùi — phần tẩm bổ hiếm hoi mà cô cùng các bà mẹ cố ý giấu lại cho người đứng đầu phường chượp.— Anh ăn đi cho ấm bụng, chân anh dầm nước buốt cả ngày nay sưng tấy lên rồi kìa… — Lành khẽ thì thầm, ánh mắt xót xa nhìn xuống vạt quần ướt sũng của anh.

Đan nhìn miếng củ mài trắng ngần, rồi nhìn sang góc miếu, nơi hai đứa con nhỏ của anh Bốn bạn chài đang nép vào lòng mẹ, đôi mắt thèm thuồng nhìn chằm chằm vào làn khói bốc lên từ chiếc bát. Đan khẽ lắc đầu, nở nụ cười đượm vẻ ấm áp. Anh đỡ lấy bát sành, bước tập tễnh tới trước mặt hai đứa trẻ, chia đôi hai mẩu củ mài đặt vào bàn tay gầy gò của chúng: — Cầm lấy ăn cho đỡ đói, ngoan rồi ngày mai chú lại dắt đi bắt ốc gai.

Hai đứa trẻ mừng rỡ khoanh tay lí nhí cảm ơn rồi nhai ngấu nghiến. Nhìn cảnh ấy, lão Ba Thao ngồi bên tẩu thuốc sim đã tắt ngấm từ lâu, khẽ thở dài một tiếng cảm khái, đưa bàn tay thô ráp vỗ nhẹ lên vai Đan: — Chú mày làm thế… lòng tao đau mà lại thấy ấm, thằng Đan ạ. Cái nghĩa của vạn chài mình, sống chết có nhau là ở chỗ ấy.

Gió bấc rít qua mái lán chượp đã được chắp vá tạm thời bằng lá kè và phên nứa gãy. Đêm càng về khuya, cái đói càng cào xé ruột gan.

Chỉ cách miếu tổ vài chục bước chân, mười lăm cỗ thùng chượp bằng gỗ bời lời sừng sững đứng trong bóng tối. Mùi hương cá ngấu chín sâu từ kẽ nẹp mây quyện với hơi mặn nồng nàn cứ thoang thoảng bay lan trong gió đông. Đan hiểu rõ hơn ai hết, chỉ cần một nhát đục nạy chiếc vỉ tre nén chặt, xúc vài bát mắm xác đang rã mịn màu cánh gián non, hoặc tháo nút lù rút ra một gáo nước bổi sánh đặc, thì nồi cháo củ chuối của cả làng sẽ béo ngậy ngọt lịm, người đói sẽ có thêm sinh lực chống chọi giá rét.

Thế nhưng, suốt hai tháng trời đói lả đến hoa mắt chóng mặt, tuyệt đối không một ai trong sáu mươi nóc nhà bén mảng đến giàn thùng với ý nghĩ cạy phá ăn vụng. Tấm thẻ gỗ bời lời khắc bản giao ước Phường Chượp Cồn Cát đặt trang trọng trên hương án miếu tổ như một lời thề sắt son đã thấm vào máu thịt từng người dân chài. Họ thà nhai cọng rau bổi chát đắng, thà nuốt miếng củ chuối sượng ngắt, chứ quyết không ai phạm vào nồi cơm chung của ngày mai. Giàn thùng chượp không chỉ là mắm, mà là danh dự, là sinh mệnh và lối thoát duy nhất của vạn chài trước bàn tay bóp nghẹt của loài gian thương.

Đan cầm chiếc đèn lồng chắn gió đi dọc dãy thùng. Anh cẩn thận sờ nắn từng chiếc đai mây ngâm vôi, miết phẳng từng thớ gỗ bời lời đã ngậm no muối biển trở nên đen bóng, rắn chắc như thép nguội. Dưới ánh đèn le lói, chiếc then kiền kiền vẫn nẹp chặt vỉ tre già, chặn đứng mọi hơi ẩm và giữ trọn nhiệt ủ bên trong lòng khối chượp.

Đan ghé sát mũi vào kẽ then, khẽ hít một hơi thật sâu. Không có một chút mùi khú, không một gợn tanh tao. Chỉ có mùi đượm nồng của mồi cá cơm than đang chuyển hóa trọn vẹn dưới sức nén khổng lồ.

Tính từ con nước rong rộ vụ cá năm ngoái, mẻ chượp trong năm cỗ thùng cái đã nằm yên giấc đúng mười một tháng. Tròn mười một tháng phơi nắng dầm sương, trải qua cái nóng rẫy của tiết Đại thử và trận cuồng phong mùa biển động, cá và muối đã hòa quyện làm một, đang tích tụ từng giọt tinh hoa cuối cùng trước kỳ khai mở.

Rồi những ngày cùng cực nhất cũng dần trôi qua.

Vào một buổi sớm mùa đông rét buốt, khi sương muối còn đọng trắng xóa trên những ngọn cỏ bổi ven đụn cát, ngọn gió bấc hung hãn gầm rít suốt hai tháng ròng bỗng nhiên ngưng bặt. Biển khơi ngoài lộng thôi không còn gầm thét, mặt nước ngả sang màu xanh thẫm và phẳng lặng dần trở lại như một tấm gương khổng lồ phản chiếu vầng rạng đông ửng hồng nơi chân trời xa.

Đan một mình bước ra lán chượp. Không gian sớm mai tĩnh mịch đến độ chỉ còn nghe thấy tiếng bước chân khập khiễng của anh lạo xạo trên cát ẩm.

Dừng chân trước cỗ thùng chượp số một, Đan đứng lặng nhìn dáng hình đồ sộ của cỗ thùng gỗ bời lời sừng sững đầu hàng. Một linh cảm kỳ diệu bỗng thôi thúc nơi lồng ngực. Anh khẽ nghiêng người, áp sát một bên tai vào thớ gỗ dày dặn nơi gần sát đáy thùng.

Giữa sự tĩnh lặng thiêng liêng của đất trời, từ sâu thẳm trong lòng cỗ thùng nén chặt, bỗng vang lên một âm thanh nhỏ nhoi nhưng trong vắt “Tách!”

Tiếng rỏ giòn giã lạ lùng rớt xuống đáy ang lọc, làm rung động cả khoảng trời sớm mai.

Bạn thích truyện này?

Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!

Hãy là người đầu tiên để lại đánh giá cho tác phẩm này.