Chương 12: Dựng Lập Phường Chượp

Bóng chiếc ghe lạ cùng ba hồi đèn đỏ ma mị chìm hẳn vào màn mưa đen kịt ngoài lộng tây, chỉ còn lại tiếng sóng biển đập ràn rạt vào ghềnh đá. Thế Đan đứng tựa vào cột hiên lán chượp, khẽ thở dài một tiếng. Anh hiểu rõ ngọn đèn ấy chính là ám hiệu của thuyền buôn họ Tiền chờ tin tức phóng hỏa từ bờ. Nếu đêm nay kế độc thành công, ngọn lửa ngút trời sẽ là lời cáo chung cho vạn chài; nhưng giờ đây, biển đêm chỉ còn lại tiếng gió rít qua rặng phi lao.

Nén cơn nhức buốt đang râm ran nơi khớp gối phải sau cú dồn lực bất ngờ, Đan chống gậy tre khập khiễng quay trở vào gian lán. Dưới ánh sáng ấm áp của ngọn đèn chai chắn gió mà Lành đang cầm, năm cỗ thùng gỗ bời lời sừng sững hiện ra như năm bức tường thành vững chãi.

— Anh Đan, anh xem… bọn chúng rải tro bẩn sát vách thế này, liệu có ngấm vào trong không? — Lành lo lắng hỏi, vạt áo chàm của cô ướt đẫm nước mưa nhưng đôi mắt vẫn chăm chú soi đèn cho anh.

Đan khẽ lắc đầu, quỳ một chân xuống nền cát ẩm bên cạnh cỗ thùng thứ nhất. Bàn tay chai sạn của anh cẩn thận sờ nắn từng then cài bằng gỗ kiền kiền, miết dọc theo tám vòng đai mây rừng ngâm vôi siết quanh thân thùng. Các mạch ván bời lời ngậm nước biển nở khít khao, không hề suy suyển, chẳng để lọt lấy một kẽ hở. Anh cúi rạp người xuống sát chân bệ đá, đưa tay kiểm tra nút lù bằng gỗ bọc vải gai mịn. Lớp chổi rễ bổi, sỏi tròn và cát thạch anh làm tầng lọc bên trong vẫn ngăn cách tuyệt đối mọi bụi bẩn từ bên ngoài. Đầu vòi lù chỉ rỉ ra vài giọt nước bổi vàng rơm trong vắt, bốc lên mùi thơm ngấu nồng đượm của cá cơm than và muối mặn.

Cả năm cỗ thùng đều vẹn nguyên, không dính một hạt tro than hay nắm cát bẩn nào của lũ gian đồ.

Đan ngẩng lên, nhìn nụ cười nhẹ nhõm vừa nở trên gương mặt thanh tú lấm tấm mồ hôi của Lành, giọng anh trầm xuống đầy tin cậy: — Thùng kín như bưng, vỉ tre nẹp chặt. Nước bổi vẫn thơm trong, lộc của biển không ai cướp phá nổi đâu em.

Sương đêm tan dần khi con nước ròng rút ra xa. Mưa tạnh hẳn, để lại bầu trời rạng đông ửng hồng mé chân trời phía đông.

Sáng hôm ấy, khoảng sân rộng trước miếu tổ nghề của vạn chài Thạch Bàn đông nghịt người. Sáu mươi nóc nhà ngư dân cùng bà con diêm dân bên ruộng muối Cát Trắng lục tục kéo về, tiếng bàn tán xôn xao xen lẫn những ánh nhìn căm phẫn dồn về phía góc sân miếu. Ở đó, Cai bến Cửu Vằn cùng ba tên tay sai bị trói ngồi bệt trên nền cát, quần áo tả tơi lấm lem bùn đất, mặt mày bơ phờ sau một đêm giam cầm ở lán canh rạn đông.

Một vài bạn chài nóng tính vẫn lăm lăm cán chèo trong tay, tiếng quát tháo đòi lôi chúng ra bãi đá nện cho một trận nhớ đời không ngớt vang lên. Lão Ba Thao khoanh tay đứng tựa gốc bàng cổ thụ, râu cước rung rung nhưng ánh mắt lão chăm chú dõi theo từng bước đi của Đan.

Đan từ trong gian chái miếu bước ra. Thay vì roi vọt hay gông cùm, trên tay anh là một chiếc mâm tre bốc khói nghi ngút, bên trên đặt bốn bát cháo củ mài nấu cá đục vừa chín tới. Mùi thơm của củ mài bùi bùi hòa cùng vị ngọt của cá tươi khiến bụng mấy tên tay sai bất giác sôi lên ùng ục.

Đan khập khiễng bước tới, ra hiệu cho thanh niên nới lỏng dây mây trói tay cho bốn người, rồi tự tay bưng từng bát cháo đặt vào lòng họ.

Cửu Vằn ngẩng phắt khuôn mặt có vết sẹo ngang má lên, ánh mắt đầy vẻ ngờ vực xen lẫn đề phòng: — Mày… mày giở trò gì thế thằng thọt? Muốn bỏ độc vào cháo để giết người diệt khẩu à?

Đan khẽ cười, giọng điềm đạm mà vang rõ khắp sân miếu: — Nếu muốn hại các người, đêm qua dân làng đã ném các người xuống biển làm mồi cho cá dữ. Bát cháo này nấu bằng củ mài trên gò đất và cá đục bắt ở vụng đá của đảo, là mồ hôi nước mắt của bà con cưu mang nhau qua ngày giáp hạt. Các anh cứ ăn cho ấm bụng đã.

Ba tên tay sai run rẩy nhìn nhau, rồi không kìm được cơn đói lả, bưng vội bát cháo húp lấy húp để. Riêng Cửu Vằn vẫn cắn chặt môi, bàn tay nắm chặt mép bát tre, vết sẹo trên má giật giật.

Đan chống gậy khẽ hạ một bên gối xuống trước mặt gã cai bến, ánh mắt nhìn thẳng vào đôi mắt đỏ ngầu kia: — Tôi biết các anh vốn cũng là con em dân chài nghèo khó dưới bến Vĩnh Thông, vì manh áo miếng cơm, vì nợ nần mà phải cúi đầu đi làm tay sai cho họ Tiền. Nhưng các anh thử nghĩ xem, Tiền viên ngoại ngồi mát ăn bát vàng, còn các anh dầm mưa dãi nắng, nửa đêm đi làm chuyện thất đức thiêu rụi đường sống của đồng loại. Đêm qua nếu năm cỗ thùng này cháy, sáu mươi nóc nhà vạn chài chết đói, thì con cháu các anh sau này có ngẩng mặt lên nhìn trời đất được không? Biển cả nuôi sống người đời, hạt muối mặn là để giữ lòng cá tươi, chứ không phải để người ta dùng tiền bạc đè bẹp lương tri con người.Từng lời từng chữ của Đan như nhát búa nện vào tâm can gã cai bến hung hãn. Bát cháo nóng trên tay Cửu Vằn bỗng chốc trở nên nặng trĩu. Gã run rẩy cúi gằm mặt xuống đất, hai vai khẽ rung lên. Giọt nước mắt muộn màng của kẻ giang hồ ăn sóng nói gió bất giác nhỏ xuống nền cát mịn.

— Thầy Đan… tôi… chúng tôi có tội! — Cửu Vằn nghẹn ngào, giọng khàn đặc — Tiền viên ngoại ép chúng tôi, bảo nếu không thiêu rụi giàn chượp thì lão sẽ bắt vợ con tôi gán nợ… Tôi trót mù quáng nghe theo lời xúi bẩy. Đội ơn thầy và bà con không giết, từ nay về sau, Lê Cửu này xin thề trước anh linh tổ nghề biển khơi, nếu còn dám làm nửa điều ác hại dân đảo Cồn Cát, xin chịu chết rấp giữa sóng dữ không có đất chôn!

Ba tên đàn em cũng buông bát, quỳ sụp xuống dập đầu tạ tội trước sân miếu.

Lão Ba Thao bước tới, dùng mũi dao găm cắt đứt những vòng mây trói còn lại. Đan lấy từ trong ngực áo ra một bức phong thư viết trên giấy bổi dày, gấp gọn gàng, đưa tận tay Cửu Vằn: — Bác Ba và bà con thả cho các anh về đất liền. Hãy đem bức thư này trao tận tay Tiền Bá Đạt. Nói với lão rằng: Món nợ ba trăm quan tiền kẽm, vạn chài Thạch Bàn không hề chối bỏ, nhưng chúng tôi sẽ trả bằng chính giọt mồ hôi và sản vật của biển cả, chứ không đời nào dâng nộp thuyền bè hay giàn thùng bời lời. Nếu lão còn sai người ra quấy phá, toàn bộ tang vật dầu thông và lời thú tội của các anh đêm qua sẽ được chuyển thẳng lên quan Tuần phủ kinh lý!

Cửu Vằn đón lấy bức thư, run rẩy vái lạy Đan cùng lão Ba Thao rồi cùng đám đàn em lầm lũi bước xuống chiếc thuyền nan nhỏ, cắm cúi chèo về hướng đất liền.

Bóng chiếc thuyền nan khuất dần sau lùm đá phía bờ tây, sân miếu tổ nghề lại trở về với vẻ trang nghiêm, tĩnh mịch. Toàn thể bà con vạn chài và diêm dân đều nín thở, ánh mắt dồn cả về phía người thanh niên chân đi tập tễnh đang đứng giữa sân.

Đan quay lại nhìn mọi người, cất cao giọng: — Thưa bác Ba, thưa toàn thể bà con cô bác! Đòn hiểm của họ Tiền ta đã bẻ gãy, nhưng nếu từng nhà cứ lẻ loi chống chọi như xưa, thì một chiếc thuyền nan hay một nong muối cũng chẳng thể vượt qua mùa giông bão. Một sợi mây rừng dễ đứt, nhưng trăm sợi bện chặt sẽ kéo nổi neo thuyền ngàn cân. Hôm nay, cháu muốn xin phép bác Ba và bà con, chúng ta cùng dựng lập nên “Phường Chượp Cồn Cát”!

Tiếng hô ứng của Đan vừa dứt, cả sân miếu bỗng chốc im phăng phắc, rồi vỡ òa trong những ánh mắt sáng rực niềm hy vọng.

Đan nói tiếp, từng lời rành rọt, khúc chiết: — Giàn năm cỗ thùng bời lời này từ nay không phải của riêng ai, mà là máu thịt chung của toàn vạn chài và diêm dân Cát Trắng. Ngư dân góp cá cơm tươi, diêm dân góp muối hạt sạch xả chát, thợ mộc góp công xẻ gỗ, chị em phụ nữ góp sức bện mây gài vỉ. Mọi hạt muối, con cá bỏ vào thùng đều được ghi chép phân minh. Sau này mẻ chượp chín ngấu, rỏ ra từng giọt mắm thơm, lợi ích sẽ chia đều cho từng miệng ăn trong làng; ta lại cùng nhau lên rừng Đá Đỏ xẻ thêm gỗ bời lời đóng thêm mười cỗ, hai mươi cỗ thùng mới, để con cháu đời đời không còn phải bán mình làm nô dịch cho phú thương!

— Phải đấy! Thằng Đan nói trúng bụng dạ lão già này! — Lão Ba Thao bước lên bục đá, vung cánh tay gân guốc — Có Phường Chượp, vạn chài ta từ nay có gốc có ngọn, có sống có chết cùng nhau!

Lão Ba Thao trịnh trọng nâng lên một tấm thẻ gỗ bời lời đỏ au dài hai thước, bên trên đã khắc sâu từng dòng chữ giao ước ước định quy chế của phường chượp. Lành bưng nghiên mực tàu mài sẵn bước tới cạnh bàn thờ.

Lão Ba Thao là người đầu tiên ấn ngón tay cái thô ráp dính mực đỏ lên đầu thẻ gỗ. Tiếp đó, lần lượt sáu mươi chủ hộ của vạn chài và xóm muối trân trọng bước lên, từng vết điểm chỉ đỏ thắm in đều tăm tắp trên thớ gỗ bời lời thơm ngát hương rừng, như một lời thề sắt son cắm rễ vào lòng đất đảo.

Khi tấm thẻ giao ước được Đan và lão Ba Thao cung kính đặt lên hương án gian chính miếu tổ nghề, ngoài trời bỗng bừng lên một quầng sáng rực rỡ. Nắng sớm xé toạc màn sương mù bãi cát, rọi luồng nhiệt nóng rực xuống triền cồn.

Đan khập khiễng bước ra mép lán chượp, đưa bàn tay áp nhẹ lên thành ván bời lời của cỗ thùng cái. Gỗ rừng ngậm muối gặp nắng gắt đã ấm ran lên từ bao giờ, phả ra hơi nồng đượm ngọt lịm của mồi cá đang tự chuyển mình chín ngấu. Đan mỉm cười, lòng rộn rã một niềm tin mãnh liệt: Thời khắc nắng bãi luyện hương, đón dòng nước bổi đầu tiên đã thực sự bắt đầu.

Bạn thích truyện này?

Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!

Hãy là người đầu tiên để lại đánh giá cho tác phẩm này.