Chương 5: Mẻ Sứ Đầu Tiên

Tiếng tẩu đất nện cộc một tiếng giòn giã xuống mặt phản lim vẫn còn đọng lại trong gian nhà ấm mùi tro bếp. Bác Mộc dứt lời liền xắn cao hai ống tay áo chàm, đưa mắt nhìn về góc sân chất đầy sọt đá và bao đất. Bác Thao vỗ vai Hưng dặn dò đôi câu rồi vội vã quay về lán ngã ba Cầu Đen trông nom công trường, để cậu ở lại xóm Lò dốc trọn tâm lực cho trận đánh quyết định.

Suốt hai ngày đêm sau đó, xưởng gốm họ Bùi không lúc nào ngơi tiếng chày giã. Hưng cùng Oanh và bác Mộc chia nhau từng việc, tỉ mỉ đến từng li. Ba thúng thạch anh bãi bồi sông Chanh đổ vào cối đá được Hưng cùng Oanh thay nhau giã dập rồi nghiền mịn như bột nếp. Ở góc sân, đất sét trắng đồi Mâm Xôi được bác Mộc đánh tan trong bể gạch, để Hưng gạn lọc từng gáo huyền phù sánh đặc, loại sạch sỏi cát và rễ mục.

Đất sét dẻo quánh, bột thạch anh cùng tro trấu đốt kỹ được nhào trộn đúng tỷ lệ Hưng tính toán trên giấy kẻ ô. Từng tảng đất được quật mạnh xuống bàn đá, thúc gót chân kỹ lưỡng rồi cắt lớp kiểm tra độ đồng nhất. Cạnh đó, Oanh bắc chảo gang đun nước tro theo bài men cổ truyền của cụ cố, đôi tay thoăn thoắt khuấy đều thứ men sóng sánh màu cánh gián, chốc chốc lại ngước nhìn Hưng mỉm cười khích lệ.

Chiều muộn ngày thứ hai, công đoạn chuốt phôi bắt đầu. Bác Mộc ngồi trước chiếc bàn xoay gỗ lim, chân trần đạp nhịp nhàng vào thớt gỗ tạo nên những vòng quay tít tắp. Cục đất mịn dưới tay bác dần vươn cao, nở rộng thành hình chiếc phễu úp ngược. Hưng đứng bên cạnh, tay cầm compa sắt và bản vẽ mặt cắt đã sờn mép, chăm chú theo dõi từng đường miết dao tre “Bác Mộc cho gờ tán thứ hai lượn sóng sâu thêm ba milimét nữa ạ. Độ dốc này sẽ ngăn giọt nước mưa đọng lại thành cầu dẫn điện, kéo dài đường rò bề mặt khi lưới chịu tải mười kilôvôn.”

Bác Mộc khẽ gật đầu. Đầu ngón tay cái dính bùn của bác lướt nhẹ một đường chuẩn xác, tạo thành năm vành tán uốn lượn sắc sảo. Từng chiếc phôi chuốt xong được hong gió cho se mặt rồi nhúng ngập vào thùng men tro ngọc. Năm chiếc phôi sứ đầu tiên đều tăm tắp, mang theo trọn vẹn hy vọng của cả đội thợ và xóm Lò.

Chập tối, năm chiếc bát sứ được cẩn trọng đưa vào vị trí đẹp nhất trong buồng đốt thứ hai của cỗ lò bầu. Cửa lò xây bịt kín bằng gạch chịu lửa, chỉ chừa lỗ cời than phía dưới và lỗ phong hỏa tròn nhỏ ngang tầm mắt. Bác Mộc châm mồi lửa rơm rạ, rồi những thanh củi bửa gỗ nghiến chắc nịch bắt đầu được ném vào buồng đốt.

Ngọn lửa bùng lên, tiếng củi gỗ nghiến nổ tí tách rền vang trong lòng vòm gạch. Mùi khói nồng đượm tro trấu phả ra cay xè sống mũi. Đêm càng về khuya, không khí quanh cửa lò càng nóng hầm hập. Hưng áp sát mặt vào lỗ phong hỏa, chăm chú nhìn sâu vào buồng nung.

Dưới tác động của nhiệt lượng, luồng phát xạ nhiệt quang học trong đáy mắt Hưng chuyển biến kỳ ảo. Cậu nhìn rõ từng vệt sáng nhiệt bao quanh năm khối phôi gốm: từ sắc đỏ sẫm giai đoạn thoát ẩm, chuyển dần sang vàng cam chói lọi khi xương gốm co ngót. Hưng tập trung quan sát dòng đối lưu nhiệt quanh các vành tán. Khi sắc vàng chuyển sang luồng ánh sáng trắng lóa rực rỡ — dấu hiệu lò nung vượt ngưỡng một nghìn hai trăm độ C, Hưng lập tức quay sang giục giã “Bác Mộc ơi, men bắt đầu kết khối rồi! Bác hãm bớt cửa gió, tiếp thêm củi nghiến giữ lửa xanh đều, chớ để tụt nhiệt kẻo nứt xương gốm!”

Bác Mộc thoăn thoắt điều chỉnh tấm chắn gió bằng gang, mắt lộ rõ vẻ thán phục nhìn chàng thợ trẻ “Được lắm chú mày! Giữ đúng nhịp thở của lò thế này thì lửa mới đanh, men mới ngấu!”Đến canh ba, tiếng dế ngoài đồi cọ rả rích giữa đêm thanh vắng. Khi buồng nung đã vào chu kỳ ủ nhiệt ổn định, bác Mộc tựa lưng vào cột hiên chợp mắt. Bên bếp than hồng ngoài sân, Oanh bới ra một củ khoai nướng nóng hổi, cẩn thận bẻ đôi rồi chìa nửa nạc nhất sang phía Hưng “Anh Hưng cầm lấy ăn cho ấm bụng. Thức ròng rã hai hôm nay, người anh gầy rộc đi rồi đấy.”

Hưng nhận lấy nửa củ khoai, hơi ấm từ lớp vỏ sém lan qua lòng bàn tay chai sần xua tan cái lạnh sương đêm. Cậu cắn một miếng nhỏ, vị ngọt bùi đọng lại nơi đầu lưỡi. Nhìn gương mặt lấm lem vệt tro của Oanh dưới ánh than hồng, Hưng khẽ nói “Tôi không mệt đâu cô Oanh. Chỉ nghĩ đến cảnh bà con mình quết cối đá giã gạo suốt đêm thâu, lại thêm đồng ruộng khô nẻ đợi nước trạm bơm, tôi chỉ mong mẻ sứ này thành công. Ba mươi tấn thóc giống vụ chiêm trong kho phải được giữ trọn vẹn, đường dây thông suốt thì làng mình mới bớt khổ.”

Oanh ngước đôi mắt đen láy nhìn về khoảng trời đêm thăm thẳm “Làng mình mong ánh điện như mong mưa rào hạn hán anh ạ. Bố tôi bảo, người xóm Lò làm đất nung cả đời chỉ biết cúi mặt nhìn đất, nay nhờ có anh mà đất quê mới được ngẩng đầu vươn lên cột điện cao thế đón dòng điện về.”

Lời nói chân tình của người con gái xóm gốm như dòng nước mát tưới vào lòng Hưng. Hai người ngồi bên nhau trong sự tĩnh lặng ấm áp, lắng nghe nhịp thở bền bỉ của cỗ lò bầu đang tôi luyện những mầm sống mới cho quê hương.

Rạng sáng ngày thứ ba, khi sương mai còn đọng trên lá cọ ven đồi, cỗ lò bầu đã hạ nhiệt an toàn. Bác Mộc cầm búa dỡ từng viên gạch bịt cửa lò. Hơi nóng và bụi tro bảng lảng bay ra như làn sương mờ. Hưng nín thở cùng bác Mộc dùng kẹp sắt dài thận trọng đưa từng chiếc bát sứ ra chiếc nong lót rơm khô.

Năm chiếc bát sứ cách điện đầu tiên hiện ra vẹn nguyên trước ánh bình minh. Lớp men tro ngọc cổ truyền sau khi vượt qua ngọn lửa nghìn độ đã hóa thành màu trắng ngà bóng loáng, đanh chắc như ngọc thạch. Không hề có bọt khí hay vết rạn chân chim nào trên bề mặt các vành tán.

Và trong đôi mắt của Hưng, tầm nhìn trực quan bừng lên rực rỡ: một dải hào quang màu lục biếc hoàn hảo, trong vắt như ngọc bích, đang tỏa ra bao bọc trọn vẹn thân từng chiếc bát sứ. Đó là minh chứng đanh thép cho cấu trúc xương gốm đã kết khối hoàn toàn sít đặc, triệt tiêu mọi khe rỗng dẫn điện, sẵn sàng ngăn chặn mọi dòng rò nguy hiểm.

Cầm chiếc bát sứ còn vương hơi ấm lò nung trên đôi tay run rẩy, Hưng nghẹn ngào nhìn bác Thao và chú Quản vừa hớt hải chạy sang, biết rằng cánh cửa cứu vãn tuyến đường dây mười kilôvôn đã thực sự hé mở.

Bạn thích truyện này?

Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!

Hãy là người đầu tiên để lại đánh giá cho tác phẩm này.