Chương 13: Cân Muối Nghĩa Tình

Câu hỏi của bác Thao như tảng đá nặng khiến lán thi công chùng xuống. Ngoài cửa liếp, vầng mây giông sau đỉnh Mâm Xôi vẫn cuồn cuộn dâng xám xịt. Sấm sét có thể giáng xuống bất cứ lúc nào.

Chú Quản bặm môi, đập mạnh lên quai chiếc cặp da bạc màu: “Bác Cả nói chí phải. Muối hạt là định lượng của cả xã, nhưng trạm biến áp nổ thì công sức cả tháng trời đổ sông đổ biển, lúa của bà con cũng cháy khô. Cậu Hưng theo tôi lên Ban chủ nhiệm Hợp tác xã ngay bây giờ, phải xin bằng được!”

Hưng cất vội tờ sơ đồ mạch tiếp địa vào túi áo bảo hộ rồi cùng chú Quản dắt xe đạp lao ra ngõ. Con đường đất đỏ gồ ghề sỏi son xao xác trong gió thốc oi nồng.

Tại trụ sở Hợp tác xã Đồng Lau, ông Thụ — Chủ nhiệm xã — vừa nghe chú Quản giãi bày liền xua tay gạt phắt, chiếc xe điếu trên tay gõ cồm cộp xuống bàn: “Không được! Ba tạ muối hạt trong kho dự trữ là suất ăn phòng bão của cả nghìn nhân khẩu. Xã viên mỗi tháng chỉ được vài lạng muối chấm rau, các chú lại đòi xúc ba tạ đem chôn xuống đất đồi? Dân biết thì vác cuốc lên đòi nợ tôi đấy!”

Chú Quản sốt ruột ghé sát mặt bàn: “Bác Thụ nghe tôi đã! Không có muối ngâm than củi làm chất điện phân hạ điện trở đất, sét đánh là nổ trạm biến áp!”

“Nguyên tắc phân phối là một hạt muối cũng phải vào nồi canh hợp tác!” Ông Thụ gắt gỏng. “Tôi ký lệnh đem chôn ba tạ muối, thanh tra huyện bắt tôi vào tù vì phá hoại tài sản thì sao?”

Không khí trong phòng nghẹt thở. Cánh cửa gỗ bỗng mở ra, Mai Oanh bước vào, ôm cuốn sổ thống kê bọc vải dù xám. Trên người cô vẫn là chiếc sơ mi cánh sen bạc màu có miếng vá tinh tế nơi khuỷu tay, đôi mắt đen láy ánh lên vẻ kiên nghị: “Bác Thụ nói đúng nguyên tắc, nhưng bác tính sót cái mất mát lớn hơn rồi!”

Oanh bước tới, dõng dạc lật mở từng trang sổ chi tiết đặt trước mắt ông Thụ: “Bác nhìn xem, ba tạ muối hạt dự trữ trị giá chưa đầy sáu mươi đồng theo giá phân phối nội bộ. Nhưng nếu trạm biến áp bị sét đánh cháy, hai tổ máy bơm Cầu Đen ngừng chạy, hơn ba trăm mẫu lúa chiêm đang độ ngậm sữa sẽ chết khô vì thiếu nước tưới. Mất vụ chiêm là cả xã mất hàng trăm tấn thóc!”

Oanh nhìn thẳng vào ông Chủ nhiệm, giọng đanh thép: “Chưa hết đâu bác! Ba mươi tấn thóc giống vụ chiêm của toàn xã đang nằm ở kho chân đồi Mâm Xôi. Nơi ấy trũng thấp, nếu máy bơm tiêu úng mất điện khi giông bão đổ về, nước ngập lút kho thóc giống thì vụ sau xã viên lấy gì gieo cấy? Bác tiếc ba tạ muối cứu trạm điện, hay muốn đánh đổi bằng ba mươi tấn thóc giống và bát cơm của hàng nghìn con người?”

Từng lời của Oanh gõ trúng nỗi trăn trở lớn nhất của người đứng đầu hợp tác xã. Ông Thụ bần thần nhìn cuốn sổ thống kê, ngón tay run run lần theo những con số rành rọt. Sự im lặng bao trùm gian phòng, chỉ còn tiếng tích tắc khô khốc của chiếc đồng hồ Liên Xô trên vách.Chú Quản lập tức rút từ cặp da tấm thẻ công nhân kỹ thuật cùng cuốn sổ lĩnh lương mòn gáy, đặt dằn xuống bàn: “Tôi lấy toàn bộ lương tháng và danh dự người Đội trưởng ra bảo lãnh! Nếu trạm xảy ra sự cố, tôi xin chịu kỷ luật trước Ty Điện lực và trừ lương cá nhân đền trả từng hạt muối cho xã!”

Hưng bước lên một bước, lễ phép nhưng dứt khoát: “Thưa bác Chủ nhiệm, cháu là người tính toán phương án này. Đất đồi sỏi son khô kiệt đã biến thành lớp cách điện, trạm biến áp rất dễ nổ bình dầu. Than củi ngậm muối hạt sẽ tạo màng dẫn điện bọc lấy cọc thép, tản an toàn xung sét xuống lòng đất. Cháu cam đoan bằng lương tâm người thợ, không một hạt muối nào bị lãng phí!”

Ông Thụ thở dài, nhìn tấm thẻ của chú Quản, nhìn sự quả quyết của Hưng rồi nhìn sang Oanh. Cuối cùng, ông cầm chiếc bút mực Cửu Long, ký dứt khoát vào góc tờ phiếu xuất kho: “Được rồi! Tôi xuất kho ba tạ muối hạt dự trữ giao cho đội điện. Nhưng các chú phải giữ trạm bơm chạy an toàn cho tôi!”

“Còn than củi gỗ nghiến,” Oanh mỉm cười nhẹ nhõm nói thêm: “Bố cháu và bà con xóm Lò vừa dỡ lò bầu hôm qua, trong xóm còn nhiều than gỗ nghiến già đanh. Cháu sẽ chạy về vận động bà con xóm Lò dồn than củi chi viện cho công trình ngay chiều nay!”

Buổi chiều muộn, từng chiếc xe thồ chở những bao than củi đen nhánh từ xóm Lò kéo về ngã ba Cầu Đen. Ba bao tải muối hạt nặng trịch, bốc mùi mằn mặn của biển khơi cũng được chuyển đến an toàn dưới gốc sung già.

Hưng cùng Oanh cẩn thận kiểm đếm từng bì than, từng bao muối trắng tinh. Gió đồi cọ thổi lộng từng hồi, cuốn theo hơi lạnh ẩm ướt trước cơn chuyển dạ của đất trời.

Bất chợt, Oanh bước lại gần. Nhìn bàn tay Hưng quấn mẩu vải thô sờn rách — nơi những vết bỏng rát do kéo cáp bãi Soi vẫn còn ửng đỏ, Oanh thoáng nét xót xa trong ánh mắt.

Oanh kín đáo dúi vào tay Hưng gói nhỏ bọc trong mảnh lá chuối tươi: “Lá bỏng vườn nhà tôi giã nát với chút muối đấy... Anh đắp vào cho dịu vết rát, bớt buốt thịt. Đêm nay còn phải cầm xà beng đào rãnh đóng cọc, tay đau thế làm sao chịu nổi.”

Hưng nắm chặt gói thuốc, cảm nhận chất dịch mát rượi thấm qua làn da bỏng rát. Cậu ngước lên, bắt gặp ánh mắt Oanh đang nhìn mình — một ánh nhìn mộc mạc, ấm áp lạ kỳ giữa gió lạnh miền trung du. “Cảm ơn cô Oanh. Nhờ có cô trưa nay, mọi người mới giữ được trạm.” “Cùng lo việc chung cho làng xóm cả thôi anh,” Oanh khẽ cười, lọn tóc mai bay lòa xòa trước trán.

Bỗng một tiếng sấm ục ục vang lên từ xa. Mây đen từ đỉnh đồi Mâm Xôi cuồn cuộn tràn xuống, sà thấp ngang ngọn cọ. Gió giông giật mạnh rít qua ngã ba Cầu Đen, cuốn bụi đỏ mù mịt quanh bệ máy biến áp. Đêm nay, toàn đội buộc phải hoàn thành bãi tiếp địa trước khi mưa giông trút xuống.

Bạn thích truyện này?

Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!

Hãy là người đầu tiên để lại đánh giá cho tác phẩm này.