Chương 22: Nhát Búa Trấn Vàm

Chiếc sà lan công vụ giảm dần tốc độ rồi dừng hẳn ngay trên đỉnh rốn xoáy Vàm Đầu Sấu. Dưới ánh trăng rằm tháng mười một vằng vặc như dát bạc, bốn chiếc mỏ neo thép nặng hàng tấn đồng loạt lao xuống đáy nước, giữ chặt con tàu đứng yên giữa ngã ba sông. Con nước lớn vừa chạm đỉnh triều, ngọn sóng hung hãn thường ngày bỗng chốc chùng lại, chuyển mình sang con nước đứng êm ả lạ lùng. Mặt nước phẳng lặng như một tấm gương khổng lồ, soi bóng những quầng sáng đỏ chớp nháy từ ngọn đèn hoa tiêu trên đỉnh cọc mộc tiêu số bảy đang treo lơ lửng nơi cần cẩu sà lan.

Đại úy Trần Tuấn bước nhanh đến bên thành tàu, kiểm tra lại dàn cáp thép chịu lực nối với hệ thống ròng rọc định vị rồi quay sang nhìn Bá Khiêm “Mọi thông số thủy văn đều khớp với tính toán, chú Ba. Con nước đứng chỉ kéo dài chừng ba mươi phút thôi, sau đó nước ròng sẽ đổ xiết dữ dội lắm.”

“Được rồi, chú Tuấn. Ba mươi phút là đủ cho hai thầy trò tôi làm nên chuyện,” Bá Khiêm điềm đạm đáp.

Ông quay sang thằng Nhâm, thấy nó đang cẩn thận kiểm tra van xả của hai bình khí nén mười hai lít. Vết chém ở bắp tay trái của nó đã kéo da non, đôi mắt một mí sáng quắc vẻ quả quyết. Bá Khiêm vỗ mạnh lên bờ vai rắn rỏi của đệ tử “Mày nhớ kỹ lời tao dặn chưa, Nhâm? Dưới đáy sâu ba mươi hai sải tay, áp lực nước nặng như đá tảng đè ngực. Xuống tới nơi, mày giữ chặt chân cọc cho tao ngắm hướng, chừng nào tao ra hiệu mới được tiếp búa. Tuyệt đối hổng được nôn nóng nghe mậy!”

“Dạ, chú Ba, con nhớ từng chữ một. Con theo sát chú!” Nhâm đáp chắc nịch, giọng không hề gợn chút run rẩy.

Hai thầy trò ngậm chặt đầu vòi thở, kéo kính lặn áp sát mặt. Bá Khiêm kiểm tra dây bảo hộ số mười buộc quanh đai chì, giắt chặt thanh đồng định thủy gia truyền bên hông rồi một tay xách chắc chiếc búa tạ bằng thép tôi. Cùng một lúc, hai bóng người ngả mình lao xuống dòng sông.

Bọt khí thở sủi tăm trắng xóa quanh vành kính lặn. Ánh trăng rằm chỉ xuyên thấu được qua vài sải nước đầu tiên rồi mờ dần, nhường chỗ cho màn nước phù sa đặc quánh. Bá Khiêm mở to mắt, vận dụng kinh nghiệm hai mươi bảy năm lặn tiêu để điều chỉnh nhịp thở, ép màng nhĩ cân bằng áp suất. Càng xuống sâu, buốt giá càng thấm vào da thịt, lồng ngực như bị một bàn tay vô hình bóp nghẹt. Ba mươi hai sải tay – độ sâu hiểm trở của Vàm Đầu Sấu – hiện ra dưới đáy sâu tăm tối.

Chân vịt lặn chạm vào lớp bùn dẻo quánh. Trước mắt Bá Khiêm, hố sụt khổng lồ của rốn xoáy há toác miệng, đáy hố lõm sâu xuống lớp cát vàng hạt to. Những sợi xích bùa chú và xương tàn trôi dạt của các bậc tiền hiền nay đã được dọn sạch, chỉ còn lại sự trống trải lạnh lẽo của long mạch bị xé toạc suốt thời gian qua.

Bá Khiêm rút thanh đồng định thủy, cắm phập đầu đồng nhọn hoắt vào giữa tim huyệt cát rồi khẽ nghiêng đầu, áp báng gỗ xoan đào sát vành tai nghe ngóng.

Một tiếng ngân trầm trầm dội ngược lên từ lòng đất mẹ. Tiếng dội đêm nay không còn tiếng than khóc ai oán, không còn tiếng răng rắc ghê rợn của hàm ếch sụt lở, mà tròn trịa, ấm nồng như nhịp đập của quả tim vừa hồi sinh. Đúng tim huyệt rồi!

Bá Khiêm mừng rỡ giật mạnh sợi dây hoa tiêu trong tay đúng ba nhịp dứt khoát.

Từ phía trên mặt nước, hệ thống ròng rọc từ từ chuyển động. Thân cọc mộc tiêu số bảy bằng gỗ tràm cổ thụ ôm khít lõi mun trăm tuổi rẽ nước hạ xuống. Mũi cọc nhọn hoắt bọc một lớp sắt dày cắm phập chuẩn xác vào giữa tim huyệt cát rốn xoáy, bốn chữ “Hà Thần Trấn Tọa” khắc sâu trên thân gỗ sừng sững hiện ra dưới quầng sáng của đèn lặn.

Dòng nước ngầm bắt đầu rục rịch lay động, con nước đứng sắp sửa chuyển mình. Bá Khiêm ra hiệu cho Nhâm ôm chặt lấy thân cọc để giữ thăng bằng. Ông bước lên một gờ đá ngầm, hai chân ghì chặt vào vách đá nhờ sức nặng của đai chì giữ thăng bằng, hai bàn tay chai sạn siết chặt cán búa tạ. Ngược dòng nước cản, Bá Khiêm dồn toàn bộ sức mạnh hai mươi bảy năm nghề nện thẳng chiếc búa tạ xuống đỉnh cọc bọc thép.Tiếng va chạm đanh thép xé toạc đáy nước sâu, dội thành từng đợt sóng âm rần rật vào lồng ngực. Thân cọc gỗ tràm lún xuống một tấc vào lòng cát. Lớp dầu rái đen nhánh quét trên thân cọc rẽ nước cuộn trào, hòa vào dòng chảy phù sa cuồn cuộn của sông Tiền.

Bá Khiêm vung tiếp nhát thứ hai, thứ ba. Mỗi nhát búa dưới độ sâu ba mươi hai sải tay đòi hỏi sức lực gấp bội so với trên cạn, buồng phổi ông căng tức, bọt khí thở tuôn trào cuồn cuộn thành những chùm bóng bạc nổi lên mặt nước.

Thấy thầy bắt đầu giảm nhịp vì áp lực nước đè nặng, Nhâm lập tức bơi tới, vỗ nhẹ vào bắp tay Bá Khiêm ra hiệu đổi người. Nhìn cánh tay trái còn vệt sẹo non của nó gồng lên vững chãi đón lấy cán búa, Bá Khiêm đọc được sự kiên cường sắt đá trong mắt đệ tử. Nhâm dậm chân xuống đáy bùn, ngửa người lấy đà giáng búa xuống đỉnh cọc.

Từng nhát búa đanh gọn, chuẩn xác của Thành Nhâm nện xuống chan chát. Đó không chỉ là sức mạnh của tuổi trẻ, mà còn là nhát búa của lòng hiếu đạo, của sự quyết tâm rửa sạch nỗi oan khuất cho người cha đã khuất và đền đáp ơn nghĩa của xóm vạn đò cù lao. Thân cọc tiêu số bảy lún sâu thêm từng tấc, từng thước, cắm ngập vào huyệt cát lành của dòng sông.

Khi ngấn dấu đỏ chạm sát đáy bùn, con nước đứng cũng vừa chớm hết, luồng nước ròng bắt đầu rục rịch xoay quanh hố sụt.

Bá Khiêm bơi lại sát cạnh đệ tử. Hai thầy trò nhìn nhau qua lớp kính lặn, bốn bàn tay cùng siết chặt lấy chiếc cán búa thép. Đồng lòng dốc hết chút sức lực cuối cùng, hai người vung búa nện nhát quyết định xuống chỏm cọc.

Một tiếng va đập trầm hùng như sấm rền bùng nổ dưới đáy sâu, chấn động cả khúc sông. Chiếc cọc mộc tiêu lún ngập đúng ngấn quy định, cắm chặt vào nền đá ngầm và lòng cát mẹ, vững như bàn thạch.

Bá Khiêm rút thanh đồng định thủy, khẽ gõ nhẹ một nhịp vào lớp vỏ tràm trăm năm.

Tiếng đồng ngân vang thanh thoát, trong vắt như tiếng chuông miếu Bà Cậu lúc ban mai, lan tỏa khắp ngóc ngách của Vàm Đầu Sấu. Dưới ánh sáng đèn lặn, một cảnh tượng kỳ diệu hiển hiện: Hố xoáy hung tợn bỗng chốc lắng dịu hoàn toàn, các rãnh nứt toác dưới đáy bùn từ từ khép lại, lớp phù sa mịn màng bồi đắp phẳng phiu như một tấm thảm nhung. Qua luồng dội thanh thoát của thanh đồng, ông cảm nhận rõ rệt phía mé cồn Cát Lở, những vết hàm ếch rỗng chân đã ngừng hẳn sự rạn vỡ, long mạch rách toạc bấy lâu nay đã được hàn gắn vẹn nguyên.

Bá Khiêm vỗ vai đệ tử, ngoắc ngón tay cái ra hiệu nổi lên. Hai thầy trò từ từ bơi lên từng nhịp để xả áp suất, theo sau là những chùm bọt khí lấp lánh như hoa đăng đáy nước.

Mặt sông Tiền rẽ đôi. Hai cái đầu đen trùi trũi cùng lúc nhô lên khỏi mặt nước phẳng lặng.

“Lên rồi! Chú Ba với thằng Nhâm lên rồi, bà con ơi!”

Tiếng reo hò vỡ òa của hàng trăm người dân xóm vạn đò Bình Thạnh đứng chật kín mạn tàu và mé bãi cồn Cát Lở bùng lên, vang động cả một góc trời đêm. Chiếc tàu tuần tra của Cảnh sát đường thủy rúc lên ba hồi còi dài trang nghiêm, chào mừng chiến thắng của những người giữ lòng sông.

Bá Khiêm gạt kính lặn, tháo vòi thở ra khỏi miệng, hít một hơi thật sâu mùi gió sông nồng nàn hương hoa bần ngọt lịm. Ông ngửa mặt đón ánh trăng rằm tháng mười một vằng vặc trên cao, rồi ngước nhìn thân cọc mộc tiêu số bảy sừng sững vươn cao khỏi mặt nước Vàm Đầu Sấu, uy nghi và kiên định giữa dòng chảy, sẵn sàng đón nhận ánh sáng hoa tiêu rực rỡ trong con nước mới.

Bạn thích truyện này?

Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!

Hãy là người đầu tiên để lại đánh giá cho tác phẩm này.