Chương 21: Mồ Chung Nghĩa Trọng
Tiếng chuông đồng từ gian chính miếu Bà Cậu buông từng hồi thanh thoát: “Boong… boong… boong…”. Giữa đêm rằm tháng mười một thanh tịnh, tiếng gõ mõ khoan thai hòa cùng tiếng sóng vỗ ì oạp dưới chân bến, báo hiệu giờ lành đã điểm.
Bá Khiêm đứng thẳng người nơi mé bến, làn gió chướng mang theo hơi nước mát lành phả vào mặt ông, xua đi những giọt mồ hôi sau cả buổi cùng dân làng chăm chút cho cọc mộc tiêu số bảy. Bên cạnh ông, Đại úy Trần Tuấn trong bộ cảnh phục chỉnh tề cùng đông đảo bà con xóm vạn đò Bình Thạnh đã tề tựu đông đủ. Ai nấy đều mặc áo bà ba sẫm màu, nét mặt trang nghiêm, kính cẩn.
Trên hương án kê trước sân miếu, hàng chục chiếc tiểu sành phủ vải điều đỏ thắm xếp ngay ngắn thành từng hàng. Bá Khiêm bước lại gần, hai bàn tay thô ráp khẽ nâng chiếc tiểu sành chứa mẩu xương cẳng tay màu mun sẫm – di cốt tìm thấy ngay cạnh huyệt cọc tiêu dưới đáy vực sâu. Đại úy Tuấn cùng trai tráng trong xóm cũng lần lượt kính cẩn bưng từng chiếc quách đất nung.
Đoàn rước di cốt chậm rãi tiến về khu gò đất cao ráo phía sau miếu. Nơi đây cách xa mép lở của bờ sông, đất đai màu mỡ và thơm ngát hương cỏ non. Dân làng đã cùng nhau đào sẵn một huyệt mộ chung vuông vức, rộng hơn chục thước, viền quanh bằng những hàng gạch thẻ vững chãi để che chở cho hơn ba trăm phu phen tử nạn suốt gần hai thế kỷ.
Bên cạnh huyệt mộ, một chiếc bàn phủ khăn trắng bày biện hoa quả, trầu cau và một lư hương lớn đang nghi ngút khói trầm. Dưới ánh trăng rằm sáng vằng vặc soi rõ từng ngọn cỏ, Thành Nhâm đứng lặng hồi lâu trước di ảnh của cha mình đặt nơi góc bàn thờ.
Đôi vai Nhâm khẽ run lên. Bàn tay phải của nó chầm chậm luồn vào túi áo ngực, lấy ra chiếc bật lửa bằng đồng thau chạm nổi hình đầu rái cá ngậm ngọc – vật chứng oan nghiệt mà nó nhặt được bên bờ lở năm năm sau ngày cha bị xô xuống rốn xoáy.
Bằng tất cả sự thành kính, Nhâm run run đặt chiếc bật lửa xuống cạnh di ảnh cha, nghẹn ngào thốt lên “Cha ơi… Bao năm qua con sống trong dằn vặt khôn nguôi vì mối hận chưa trả. Đêm nay, trước vong linh của cha và các bậc tiền hiền, con đã tìm lại được công bằng cho cha rồi…”
Đại úy Trần Tuấn bước tới, bàn tay rắn rỏi đặt lên vai Nhâm siết nhẹ “Nhâm này, hồi chiều Viện kiểm sát nhân dân tỉnh đã chính thức phê chuẩn lệnh khởi tố bị can đối với Bùi Văn Càng về tội giết người và vi phạm quy định về khai thác tài nguyên. Chiếc bật lửa này cùng lời khai của đám thợ lặn ở xưởng phế liệu đã hoàn tất toàn bộ chứng cứ đanh thép. Kẻ thủ ác nhất định phải đền tội trước pháp luật và chịu sự phán xét nghiêm khắc của tòa án lương tâm.”
Nghe những lời dứt khoát của người sĩ quan công an, Nhâm ngước lên, đôi mắt nó hoe đỏ nhưng ánh nhìn đã không còn vẻ hung hãn, thù hận mù quáng như những ngày đầu lần theo dấu vết bến bãi cát lậu. Nó thở ra một hơi dài nhẹ nhõm, chắp tay cúi đầu vái lạy trước bàn thờ cha. Bá Khiêm đứng bên cạnh nhìn đệ tử, lòng ông dâng lên niềm an ủi khôn cùng. Ông hiểu thằng nhỏ đã thực sự vượt qua bóng tối của lòng thù hận để giữ trọn đạo hiếu và tìm lại sự thanh thản nơi đáy lòng.
Lúc bấy giờ, bà Tư Hạt chống chiếc gậy tre tiến ra trước bàn hương án. Miệng bà bỏm bẻm nhai trầu, mái tóc bạc trắng bay lơ thơ trong gió đêm. Bà thắp ba nén nhang lớn c*m v** lư đồng, rồi cất giọng đọc bài văn tế chiêu hồn. Giọng bà rầu rầu, trầm bổng mà âm vang như vọng về từ cõi xa xăm một trăm tám mươi năm trước “Hỡi ôi! Sóng cuộn ngã ba vàm, cát vùi xương thịt nát… Phu phen mở cõi, đào kênh đắp đập gian lao, chẳng may gặp lúc sạt lở dịch tràn, đành gửi nắm xương tàn dưới đáy nước ba mươi sải… Trăm năm chìm nổi bèo bọt, cọc mun long mạch chở che, khói hương chẳng đặng vẹn toàn…”
Từng lời văn tế mộc mạc thấm đẫm ân tình sông nước khiến những người dân vạn đò dạn dày sương gió cũng phải rưng rưng ngấn lệ. Khi lời khấn vừa dứt, Bá Khiêm cùng các bô lão cẩn trọng đặt từng chiếc tiểu sành xuống lòng huyệt đất mẹ.“Đắp đất cho các cụ đi mấy đứa!” Bà Tư Hạt khẽ cất lời, giọt nước mắt già nua lăn trên gò má nhăn nheo.
Bá Khiêm cầm chiếc xẻng sắt, xắn từng tảng đất phù sa bồi đắp thơm mùi hoa bần đổ xuống huyệt. Thành Nhâm, Đại úy Tuấn cùng trai tráng vạn đò hối hả xắn đất, chung tay vun vén từng xẻng đất ngọt lành. Đất phù sa mịn màng phủ kín những chiếc quách sành, dần dần đắp cao thành một ngôi mồ chung kiên cố, bề thế. Hơn ba trăm linh hồn phu đào kênh phiêu bạt trong bùn đen lạnh lẽo suốt gần hai thế kỷ, nay đã có được chốn an nghỉ mồ yên mả đẹp trong vòng tay che chở của hậu thế.
Khi nhát xẻng cuối cùng vỗ phẳng mặt mồ, hàng trăm nén nhang đồng loạt được cắm lên, tạo thành một quầng lửa đỏ ấm áp xua tan cái lạnh lẽo của đêm trường.
Trong làn khói nhang bảng lảng quấn quýt quanh nấm mồ chung, không gian bỗng chốc trở nên tĩnh lặng đến lạ kỳ. Gió sông Tiền ngừng thổi, mặt nước ven cồn thôi xao xác. Bá Khiêm mở to mắt nhìn qua làn khói mờ ảo dưới ánh trăng rằm.
Nơi mé huyệt mồ, một bóng người cao lớn khoác manh áo vải thô sờn rách dần hiện rõ. Đó chính là Phu trưởng Cố Hậu. Đằng sau ông, hàng trăm bóng hình mờ ảo của đoàn phu phen mở cõi đang lặng lẽ đứng thành từng hàng. Nhưng đêm nay, nét mặt họ không còn vẻ oán hận, đau đớn hay khắc khoải như những lần hiện về trong hố xoáy bị vòi rồng cày xới. Gương mặt của vị phu trưởng cùng đoàn người toát lên vẻ an hòa, thanh thản lạ thường.
Vị phu trưởng khẽ chắp hai tay trước ngực, cúi đầu tạ từ dân làng và xóm vạn đò Bình Thạnh. Ánh mắt ông dừng lại trên người Bá Khiêm, gật đầu đầy vẻ tin cậy như gửi gắm trọn vẹn lời nguyện ước hộ trì dòng sông. Rồi như một làn sương mỏng gặp nắng mai, bóng hình tiền nhân từ từ hòa tan vào ánh trăng rằm tháng mười một, để lại một luồng hơi ấm dịu dàng bao bọc khắp khu nghĩa trang. Oán khí tích tụ trăm năm dưới đáy sâu giờ đây đã hoàn toàn hóa giải thành phước lành chở che cho xóm làng.
Bá Khiêm chớp mắt, lồng ngực đập từng nhịp khoan khoái, thanh thản. Mọi âu lo, trĩu nặng trong lòng ông dường như đã tan biến sạch trơn.
“Rú… ú… ú…!”
Một hồi còi hú trang nghiêm, vang dội từ chiếc sà lan công vụ của Đội Cảnh sát đường thủy bất thần rúc lên kéo dài, xé toạc không gian thanh vắng của ngã ba sông. Tiếng còi rền vang báo hiệu con nước lớn đã dâng tới đỉnh triều và chuẩn bị chuyển sang con nước đứng lúc nửa đêm – thời khắc duy nhất dòng chảy rốn xoáy tạm thời ngưng cuộn, tạo điều kiện thuận lợi nhất để hạ cọc mộc tiêu.
Bá Khiêm quay sang nhìn đệ tử, giọng ông trầm ấm mà dứt khoát “Tới giờ rồi Nhâm. Ra bến thôi mày!”
“Dạ, chú Ba!” Nhâm đáp chắc nịch, ánh mắt sáng rực vẻ kiên cường.
Hai thầy trò nhanh chóng kiểm tra lại bình khí nén mười hai lít trên lưng, siết chặt chiếc thắt lưng đai chì cùng chốt an toàn của dây bảo hộ. Bá Khiêm giắt thanh đồng định thủy gia truyền chắc chắn bên hông, tay xách chiếc búa tạ bằng thép tôi sáng loáng. Cùng với Đại úy Trần Tuấn, hai thầy trò rảo bước tiến nhanh xuống bờ bến miếu Bà Cậu.
Chiếc sà lan công vụ chở theo cây cọc mộc tiêu số bảy sừng sững đã nổ máy chờ sẵn. Ngọn đèn hoa tiêu trên đỉnh cọc chớp nháy những luồng sáng đỏ rực rỡ, kiên định soi rọi một vệt dài trên mặt nước phù sa. Bá Khiêm cùng Thành Nhâm bước chân lên boong tàu. Chiếc sà lan từ từ rời bến, mũi tàu rẽ sóng cuộn đỏ, tiến thẳng ra rốn xoáy sâu ba mươi hai sải tay giữa Vàm Đầu Sấu trong ánh trăng rằm vằng vặc.
Bạn thích truyện này?
Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!
