Chương 23: Vàm Đêm Bình Yên

Tiếng hò reo vang dội của bà con xóm vạn đò Bình Thạnh đón lấy hai thầy trò khi họ được những cánh tay rắn rỏi kéo lên sàn sà lan công vụ. Chiếc khăn rằn ấm áp choàng qua vai Nghiêm Bá Khiêm, xua đi những giọt nước buốt lạnh còn đọng trên làn da sạm màu phèn rạ. Ông ngước nhìn trời cao. Ánh trăng rằm tháng mười một dần nghiêng về tây, nhường chỗ cho rạng sáng le lói nơi chân trời ngã ba Vàm Đầu Sấu.

Đúng lúc vầng thái dương vừa ló rạng sau rặng bần mé cồn Cát Lở, trên đỉnh cọc mộc tiêu số bảy sừng sững giữa ngã ba sông, ngọn đèn hoa tiêu năng lượng mặt trời chính thức phát quang. Từng luồng ánh sáng chớp đỏ rực rỡ bừng lên, quét nhịp nhàng qua làn sương sớm bảng lảng, rọi rõ bốn dặm nước chung quanh. Sắc đỏ hoa tiêu ấm áp in bóng xuống mặt sông phẳng lặng, báo hiệu khúc vàm hiểm trở sâu ba mươi hai sải tay đã hoàn toàn thông suốt, mở lối an toàn cho muôn vạn chuyến tàu bè qua lại.

“Thông luồng rồi! Cọc số bảy đứng vững như bàn thạch rồi bà con ơi!”

Thằng Nhâm reo to, cánh tay trái vừa kéo da non vung lên không trung, nụ cười rạng rỡ làm bừng sáng gương mặt chàng trai hai mươi hai tuổi. Tiếng còi từ chiếc sà lan chở hàng đầu tiên rúc lên ba hồi dài trầm hùng như lời cảm tạ gửi tới những người giữ lòng sông. Bá Khiêm khẽ mỉm cười, buồng phổi căng tràn làn gió sông mát lành. Hai mươi bảy năm làm nghề lặn tiêu, chưa bao giờ ông thấy lòng mình nhẹ nhõm và thanh thản đến dường này.

Trưa hôm ấy, tại trụ sở Đội Cảnh sát đường thủy, Đại úy Trần Tuấn trong bộ cảnh phục chỉnh tề tươi cười đón thầy trò Bá Khiêm cùng các bô lão xóm vạn đò. Đặt tập hồ sơ dày cộp lên bàn, Tuấn đĩnh đạc thông báo “Báo với chú Ba và bà con, Viện kiểm sát đã hoàn tất cáo trạng truy tố Bùi Văn Càng cùng toàn bộ băng nhóm cát tặc với khung hình phạt nghiêm khắc nhất của pháp luật. Chiếc bật lửa đồng thau chạm đầu rái cá ngậm ngọc thu bên bờ lở cùng lời khai của đám thợ lặn rạch Cổ Cò đã chứng minh rõ hành vi cố sát cha của Nhâm năm năm trước. Bảy Càng không còn đường chối cãi. Từ lúc vào trại tạm giam, gã hoảng loạn cùng cực, đêm nào cũng kêu gào vì nghe thấy tiếng xích sắt đáy sông va đập đòi mạng. Kẻ thủ ác gieo gió gặt bão, cuối cùng phải nhận lấy quả báo nhãn tiền.”

Nghe đến đây, Nhâm siết chặt hai bàn tay, khóe mắt đỏ hoe nhưng nét mặt đã rũ bỏ hoàn toàn vẻ căm hờn tăm tối. Mối thù giết cha đè nặng năm năm ròng rã nay được công lý giải tỏa trọn vẹn, lòng dạ nó chỉ còn lại sự thanh thản và niềm kính ngưỡng khôn cùng đối với người cha đã khuất.

Đại úy Tuấn bước lại gần, trao tận tay Thành Nhâm tấm giấy khen danh dự cùng phong bì tiền thưởng trích từ quỹ phòng chống tội phạm của tỉnh “Đây là phần thưởng xứng đáng cho lòng dũng cảm của em và chú Ba. Ban chỉ huy đội cùng anh em chiến sĩ cũng góp thêm một khoản hỗ trợ, đủ để em chuộc lại chiếc ghe cào năm xưa của gia đình và mua thuốc thang chăm sóc mẹ già. Ráng giữ gìn chiếc ghe nghen Nhâm!”

“Dạ… con đội ơn cán bộ Tuấn, đội ơn các anh nhiều lắm!” Nhâm run run đón nhận, giọng nghẹn ngào vì xúc động.

Chiều buông, nắng vàng như rót mật trên mặt sông Tiền. Thầy trò Bá Khiêm cùng Đại úy Tuấn tìm về miếu Bà Cậu mé cồn Cát Lở. Hương trầm thơm ngát lan tỏa khắp gian tiền điện và khu gò đất cao ráo phía sau miếu – nơi an nghỉ vĩnh hằng của hơn ba trăm phu phen mở cõi vừa được dân làng đắp mồ chung kiên cố.

Bà Tư Hạt ngồi bên chiếc sập gỗ, mái tóc bạc trắng như bông bần khẽ lay động theo ngọn gió sông. Đôi bàn tay nhăn nheo của bà cẩn trọng mở chiếc hộp tráp sơn son, trải rộng tấm bản đồ cổ chín cọc mộc tiêu thời vua Thiệu Trị lên mặt bàn “Mấy đứa lại đây coi nè…” Giọng bà run lên nghẹn ngào.

Bá Khiêm cùng Tuấn và Nhâm lập tức bước tới. Dưới ánh nắng chiều rọi qua khung cửa gỗ, một sự kỳ diệu hiển hiện trên trang giấy dó trăm năm tuổi: Vệt ố đen ám khói từng cháy xém ở vị trí cọc mộc tiêu số bảy nay đã hoàn toàn biến mất, không để lại mảy may dấu vết hư hao. Thay vào đó, chấm mực son đỏ tươi bừng sáng rực rỡ, liên kết cùng tám chấm son còn lại tạo thành một đồ trận chu sa vững chãi, ôm trọn lấy cù lao Cát Lở và khúc rẽ Vàm Đầu Sấu.

“Trời Phật chứng giám, tiền hiền độ trì…” Bà Tư Hạt rơm rớm nước mắt, chắp hai tay hướng về phía bàn thờ Bà Cậu. “Long mạch đã liền da liền thịt, mộc tiêu cắm sâu thì đất mẹ cù lao đời đời vững chãi, người xưa dưới suối vàng cũng được mồ yên mả đẹp rồi.”Đại úy Trần Tuấn lặng người ngắm nhìn tấm bản đồ cổ, ánh mắt ánh lên niềm xúc động sâu xa. Anh siết chặt bàn tay chai sạn của Bá Khiêm, chân thành bộc bạch “Thú thật với chú Ba, trước đây cháu chỉ tin vào máy móc định vị thủy văn và dữ liệu khoa học. Nhưng qua biến cố này, cháu mới thấm thía rằng tri thức dân gian, sự kính ngưỡng thiên nhiên và đạo nghĩa ngàn đời của tiền nhân chính là rễ sâu gốc bền để chở che cho bờ cõi xóm làng. Những người thợ lặn giữ luồng lạch như chú Ba và em Nhâm chính là linh hồn của dòng sông này.”

Bá Khiêm nhìn Tuấn, ánh mắt đong đầy sự cảm kích “Cán bộ Tuấn nói phải. Sông nước Nam Bộ mình dung chứa biết bao mồ hôi nước mắt của tiền nhân khẩn hoang. Mình sống nhờ nước, chết cũng về với nước, không kính trọng dòng sông, không giữ trọn đạo nghĩa thì sao đứng vững được giữa đất trời.”

Nói đoạn, Bá Khiêm đưa tay tháo chiếc bao da cũ kỹ bên hông. Ông rút ra thanh đồng định thủy gia truyền – báu vật ba đời của dòng họ Nghiêm, thân đồng sáng bóng ánh kim khí, chuôi gỗ xoan đào đã nhẵn thín mồ hôi của biết bao năm tháng dầm mình dưới đáy sông sâu. Ông xoay người, trang trọng nhìn người đệ tử ruột thịt “Nhâm, lại đây với tao.”

Thành Nhâm bước tới, cung kính cúi đầu “Dạ, chú Ba.”

“Cọc tiêu số bảy đã cắm chặt vào tim huyệt rốn xoáy, nhưng con nước dòng đời thì biến chuyển khôn lường,” Bá Khiêm trầm giọng, từng lời chắc nịch. “Tao nay bốn mươi bảy tuổi, sức lặn dẫu còn nhưng mắt đã bắt đầu mỏi trước con nước sâu. Thanh đồng này là mạng sống, là đôi tai và con mắt của dòng họ Nghiêm dưới đáy nước. Hôm nay, trước bàn thờ tiền hiền và chứng kiến của cán bộ Tuấn cùng bà Tư, tao trao lại nó cho mày. Nhận lấy nó, mày phải nhớ: Nghề cắm tiêu lặn luồng không phải để kiếm bạc vạn, mà để giữ mạng cho người đi sông, giữ cho lòng mình ngay thẳng, trong sạch như giọt nước đầu nguồn.”

Nhâm rưng rưng đưa hai bàn tay đón lấy thanh đồng. Nhìn đôi mắt sáng ngời cùng ngọn lửa nhiệt huyết của đứa học trò đang bừng lên trước anh linh tiền hiền, Bá Khiêm cảm nhận rõ sự vững vàng của thế hệ tiếp nối “Dạ chú Ba! Cả đời con xin khắc cốt ghi tâm lời chú dạy. Con thề sẽ dùng cả tính mạng để giữ gìn luồng lạch, không phụ ơn nuôi nấng dạy dỗ của chú và sự che chở của tiền nhân!”

Hoàng hôn dần buông, ráng chiều đỏ ối nhuộm thắm cả một vùng ngã ba sông rộng lớn. Khi bóng tối phủ xuống, vầng trăng rằm tháng mười một lại tròn vành vạnh nhô l*n đ*nh trời, soi bóng nước Vàm Đầu Sấu phẳng lặng như một tấm gương khổng lồ không chút gợn sóng.

Bá Khiêm đứng tựa lưng vào gốc bần cổ thụ mé cồn Cát Lở, trên môi nở nụ cười mãn nguyện vô bờ. Phía dưới vàm, chiếc vỏ lãi gắn máy đuôi tôm của Thành Nhâm rẽ sóng lướt đi thoăn thoắt, lanh lẹ như một con rái cá. Chàng trai trẻ vững vàng nơi tay lái, ngực đeo thanh đồng định thủy, tay vẫy chào và cất tiếng hoa tiêu dõng dạc dẫn đường cho đoàn sà lan nối đuôi nhau rộn rã qua khúc sông an toàn.

Từng hồi còi tàu trầm ấm vang vọng giữa trời đêm, hòa cùng tiếng sóng vỗ ì oạp hiền hòa vào chân bãi bồi vững chãi. Trên đỉnh cọc mộc tiêu số bảy sừng sững giữa ngã ba sông, ngọn đèn hoa tiêu chớp đỏ kiên định, nhịp nhàng và thủy chung soi sáng muôn vạn chuyến ghe xuồng xuôi ngược giữa đất trời phương Nam bình yên.

Bạn thích truyện này?

Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!

Hãy là người đầu tiên để lại đánh giá cho tác phẩm này.