Chương 2: Nhịp Đồng Định Thủy
Dòng nước ngầm lạnh buốt như ngàn mũi kim châm quất rát rạt vào da thịt Bá Khiêm. Cú giật thô bạo xé toạc sợi dây dù bảo hộ số mười, biến cả thân hình vạm vỡ của ông thành chiếc lá mục chao đảo giữa một phễu nước khổng lồ cuồn cuộn quay tròn. Tai ông lùng bùng, dưỡng khí từ van thở rít lên từng hồi gấp gáp sau lớp kính lặn mờ đục phù sa.
Trong bóng đen đặc quánh sâu hơn ba mươi sải tay, người bình thường chỉ cần hoảng loạn quẫy đạp ba giây là sẽ bị áp lực đáy vàm bóp nghẹt lồng ngực mà sặc nước chết tươi. Nhưng hai mươi bảy năm ăn ngủ cùng sông nước đã tôi luyện cho Nghiêm Bá Khiêm một bản lĩnh lì lợm. Ông ghìm chặt hai cánh tay sát sườn, co gập hai đầu gối để thu hẹp diện tích cản nước, nương theo chiều xoáy trôn ốc mà lướt xuống chứ không hề cưỡng lại sức giật của dòng chảy.
Vụt một cái, chân ông chạm vào một lớp bùn dẻo quánh, lạnh ngắt đến tê dại. Đáy sông.
Bá Khiêm lập tức quỳ sụp xuống, dùng trọng lực của chiếc đai chì quanh bụng ghim chặt thân mình vào mặt đáy lầy lội để khỏi bị luồng nước cuốn bạt đi. Mắt thường dưới độ sâu này hoàn toàn mù lòa trước màn phù sa đặc như cháo. Ông không chần chừ, tay phải thò vào bao da bên hông rút ra thanh đồng định thủy gia truyền. Mũi kim loại sáng loáng cắm phập sâu hơn một gang tay vào lòng bùn ngập nước, báng gỗ xoan đào được ông nghiêng đầu áp chặt vào vành tai qua lớp mũ cao su.
Cộc... Oong... Ràn rạt...
Tiếng dội ngầm lập tức truyền thẳng qua thanh kim loại, rung bần bật màng nhĩ Bá Khiêm. Nhịp rung đục ngầu, gắt gỏng và buốt nhức khác thường. Bằng ngón nghề "thính âm định thủy" ba đời truyền nối, Bá Khiêm lập tức phân định được phương hướng và nguồn cơn: cách vị trí ông quỳ chừng năm sải tay chếch về phía lườn sà lan, một vật thể kim loại nặng trịch đang bị kéo căng như dây đàn, quấn nghẹt lấy chân vịt và rên xiết từng hồi ken két.
Không phải lưới cào bén, càng không phải rác rưởi bèo bọt hay rễ bần trôi dạt. Đó là một sợi xích sắt to bản bất thường.
Bá Khiêm rút thanh đồng giắt lại vào thắt lưng, tay phải nắm chặt cán cây xà bén bằng thép tôi sắc ngọt. Ông đạp chân vịt cao su, bơi ngược dòng nước xiết, men theo luồng rung chấn tiến dần về phía bóng đen khổng lồ của chiếc sà lan đang đè nặng trên đỉnh đầu.
Khi bàn tay chạm vào trục chân vịt, lồng ngực Bá Khiêm thắt lại. Sợi xích sắt to bằng cổ tay trẻ con, đen sì sì, phủ một lớp bùn nhớt nhầy nhụa quấn chặt đến ba bốn vòng quanh cánh quạt bằng thép. Nhưng điều làm gai ốc toàn thân ông dựng ngược không phải là độ dày của sắt thép, mà là thứ bám trên những mắt xích.
Dưới đầu ngón tay ráp xước của ông, từng mắt xích lạnh buốt như vừa vớt ra từ hầm băng. Quanh các khớp nối, những dải vải điều đỏ thẫm đã mục rữa quấn chặt lấy các lá bùa vẽ ngoằn ngoèo bằng thứ mực đen nhờ nhờ. Kinh hãi hơn, trên bề mặt kim loại gồ ghề chằng chịt những vết cào sâu hoắm, sắc nhọn như móng tay người cào cấu trong cơn giãy giụa tuyệt vọng trước lúc chìm vào cõi chết.
Từ kẽ bùn ngay dưới chân vịt, một luồng tăm nước lạnh buốt bất thần ùng ục trồi lên, phả thẳng vào mặt kính lặn của Bá Khiêm. Trong làn bọt nước mờ ảo, ông dường như thoáng thấy những bóng hình mờ nhạt, méo mó dập dờn theo dòng xoáy, từng cánh tay khẳng khiu như cành bần khô đang chới với níu lấy sợi xích sắt, miệng há hốc thét gào không ra tiếng.
Oán khí rợn người!
Bá Khiêm cắn chặt van thở, lẩm bẩm trong tâm thức: “Tiền nhân xá tội, tui chỉ xuống gỡ tàu cứu mạng dân vạn đò mé cồn, hổng dám mạo phạm vong linh.”
Chiếc sà lan ngàn tấn trên đầu khẽ lắc mạnh một nhịp, tiếng vách ngăn rạn nứt răng rắc do sức ép của con nước ròng. Thời gian không còn nữa. Chậm vài phút, con tàu khổng lồ sẽ lật úp, đè bẹp cả ông lẫn chiếc vỏ lãi của thằng Nhâm trên mặt nước.
Bá Khiêm định thần, lách mũi xà bén bằng thép tôi vào khe hở hiểm hóc nhất giữa mắt xích và trục quay. Bắp tay ông cuồn cuộn gân guốc, dồn toàn bộ sức lực của một đời thợ lặn tì mạnh vào thân sắt. Chiếc sà lan chòng chành nhồi lên theo một con sóng lớn, tạo ra một khoảnh khắc chùng dây cực ngắn. Chỉ chờ có thế, Bá Khiêm gầm lên một tiếng sau lớp van thở, bẩy mạnh cán xà bén.Rắc! Keng!
Mắt xích bị chèn nghẽn bật tung. Cả cuộn xích sắt nặng trịch tuột khỏi cánh quạt, phát ra âm thanh rin rít ghê người rồi rơi thẳng xuống vực bùn sâu thăm thẳm bên dưới rốn xoáy, kéo theo một cuộn bùn đen ngòm sủi tăm cuồn cuộn. Chân vịt sà lan đã hoàn toàn được giải phóng.
Bá Khiêm không dám nán lại một giây. Ông quẫy nước trồi lên men theo mạn tàu, hai bàn chân đạp rẽ luồng xoáy dữ.
Vừa nhô đầu lên khỏi mặt nước đêm rằm, luồng gió chướng lập tức thốc vào mặt ông buốt giá. Chiếc sà lan đã trôi dạt sát sạt vào mé cồn Cát Lở, cách những rặng bần xơ xác chừng vài chục sải tay.
“Chú Ba! Chú Ba ngoi lên rồi!” Thằng Nhâm đứng trên be sà lan hét lạc cả giọng, vội nhoài người quăng đầu dây thừng xuống.
Gã tài công mặt cắt không còn giọt máu, lập cập phụ thằng Nhâm kéo Bá Khiêm lên sàn sắt. Vừa đặt chân lên boong, Bá Khiêm liền giật kính lặn ra, nhổ mạnh ngụm nước phèn chát ngắt rồi quắc mắt quát gã tài công “Đứng đực mặt ra đó làm gì? Chân vịt thông rồi! Đề máy lùi ngay, bẻ lái ra giữa luồng lẹ lên!”
Gã tài công giật bắn mình như vừa tỉnh mộng, ba chân bốn cẳng lao vào buồng lái. Tiếng củ đề rít lên ken két rồi tiếng động cơ diesel gầm rú vang rền, khói đen mù mịt phụt ra từ ống xả đuôi tàu. Chân vịt quẫy tung bọt trắng xóa, chiếc sà lan ngàn tấn chầm chậm ghìm lại đà trôi, rồi rẽ nước hướng mũi ngược về phía lòng sâu an toàn, thoát khỏi cảnh đâm va vào chân cù lao trong đường tơ kẽ tóc.
Thằng Nhâm ngồi sụp xuống sàn sắt th* d*c, mắt nó đỏ hoe nhìn Bá Khiêm: “Hồi nãy dây đứt, con tưởng... con tưởng chú bị nước cuốn mất xác rồi chớ!”
Bá Khiêm không đáp. Ông ngồi bệt xuống thành be tàu, đưa hai bàn tay lên ngang tầm mắt. Dưới ánh trăng rằm nhờ nhợ, mười đầu ngón tay ông tím tái, xám ngoét một màu lạnh lẽo, các khớp xương cứng đờ và tê dại như thể vừa chạm vào thịt da của một xác chết lâu năm dưới đáy mồ. Mùi tanh nồng của bùn nhơ hòa lẫn mùi rỉ sét của sợi xích bùa ếm dường như đã ngấm sâu qua từng thớ da thịt.
Có kẻ đã cố tình thả xích sắt yểm bùa xuống rốn xoáy Vàm Đầu Sấu. Chúng muốn trấn đè thứ gì đó dưới nghĩa địa chìm, hoặc giả... đã nhổ cọc tiêu trấn hà khiến long mạch đáy sông rách toạc.
Gần tàn canh, chiếc sà lan đã an toàn neo lại bến phụ. Bá Khiêm cùng thằng Nhâm nổ máy vỏ lãi chạy về chòi canh cắm cọc tiêu mé cồn Cát Lở. Không khí đêm muộn nặng nề, quánh đặc mùi phù sa ngai ngái.
Bước lên sàn ván mù u quen thuộc của gian chòi, Bá Khiêm múc một gáo nước mưa từ cái lu sành đặt trước cửa, đổ vào chiếc thau nhôm cũ kỹ. Ông rút thanh đồng định thủy ra khỏi thắt lưng, toan rửa sạch lớp bùn đen kịt đang bám chặt trên thân kim loại.
Thế nhưng, vừa lúc mũi thanh đồng chạm vào mặt nước trong vắt, một cảnh tượng quái gở khiến Bá Khiêm sững sờ chết lặng.
Bọt nước trong thau bỗng sủi ùng ục, từ từ loang ra một màu đỏ nhờ nhờ, tanh nồng như huyết dụ. Cùng lúc ấy, từ sâu thẳm dưới lòng đất cù lao Cát Lở, một âm vang u uất dội lên, nghe như tiếng hờ khóc nghẹn ngào của hàng trăm linh hồn đang oằn mình dưới lưỡi hái của dòng sông cuộn sóng.
Bạn thích truyện này?
Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!
