Chương 14: Lửa Cháy Lán Thợ
“Tăng hết ga, rẽ thẳng vô cồn Cát Lở!” Đại úy Trần Tuấn hét lớn vào buồng lái, cánh tay rắn rỏi chém mạnh vào không gian đêm lạnh buốt.
Con tàu tuần tra chồm lên, rẽ sóng xé toạc mặt nước Vàm Đầu Sấu. Gió sông thốc rát rạt vào mặt, nhưng không dập tắt nổi nỗi âu lo đang sôi sục trong lồng ngực Nghiêm Bá Khiêm. Ông ghì chặt thanh lan can sắt, đôi mắt đỏ ngầu nhìn đăm đăm về phía mỏm cù lao. Giữa trời đêm đen đặc, quầng lửa đỏ rực bốc cao quá ngọn bần già, tàn tro cuộn khói bay lả tả trên mặt sóng. Đó là căn lán trại thợ lặn của thầy trò ông suốt bao năm qua – nơi cất giữ những bản vẽ luồng lạch và ký ức của ba đời giữ sông.
“Lũ khốn nạn! Tụi nó canh lúc thầy trò mình lặn dưới rốn xoáy để ra tay!” Thằng Nhâm nghiến răng ken két, bàn tay phải siết chặt mép bạt tàu, bắp tay trái quấn băng trắng run lên bần bật vì phẫn uất.
“Bình tĩnh lại, Nhâm!” Bá Khiêm trầm giọng nén cơn giận, đặt bàn tay chai sạn lên vai đệ tử. “Cứu người với dập lửa trước đã.”
Chưa đầy mười phút sau, mũi tàu tuần tra rạch một đường dài găm sâu vào bãi bùn mé cồn. Khung cảnh trước mắt hỗn loạn đến thắt lòng. Tiếng la ó, tiếng xô chậu va đập chan chát hòa cùng tiếng gào thất thanh của bà con xóm vạn đò Bình Thạnh “Múc nước sông dội vô chái bếp mau lên! Coi chừng bén qua miếu Bà Cậu bây ơi!”
“Chú Ba Khiêm về rồi! Cứu lán mau bà con ơi!”
Không đợi tàu thả thang, Bá Khiêm nhảy phốc xuống bùn lầy, lao thẳng về phía đám cháy. Hơi nóng hầm hập phả vào mặt cay xè. Căn lán lá dừa nước khô khốc bị ngọn lửa nuốt trọn hơn phân nửa, những cột tràm nổ lách tách như pháo ran, sụp xuống từng mảng than đỏ rực.
“Tránh ra hết!” Bá Khiêm hô lớn, vớ lấy chiếc bao bố tẩm ướt từ tay một người chài lưới, trùm kín đầu rồi xông thẳng vào chái hiên đang sụp đổ.
“Chú Ba, nguy hiểm lắm!” Tiếng Đại úy Tuấn giật giọng gọi với theo, nhưng bóng dáng vạm vỡ của người thợ lặn già đã mất hút sau màn khói đặc.
Mục tiêu của Bá Khiêm là chiếc hòm đồ nghề gia truyền bằng gỗ sao – kỷ vật người cha quá cố để lại trước lúc nhắm mắt. Chiếc hòm nằm sát vách đất, lửa đã l**m tới chân gỗ. Bằng sức vóc của một thợ lặn dạn dày sóng gió, Bá Khiêm dùng bao bố ướt ghì chặt quai sắt, đạp văng thanh xà đang cháy rồi gồng lưng kéo chiếc hòm nặng cả nửa tạ lao ra ngoài sân cát.
Rầm!
Toàn bộ mái chòi canh đổ ụp xuống ngay sau lưng ông, tung lên vầng hoa lửa sáng rực. Nhâm và hai chiến sĩ cảnh sát lập tức lao tới đỡ lấy chiếc hòm. Bá Khiêm quỳ gối trên nền cát, ho sặc sụa, lồng ngực phập phồng hớp từng ngụm khí trời.
Mọi người chuyền tay nhau từng xô nước sông, hắt xối xả vào đống than đỏ. Gần nửa giờ vật lộn nghẹt thở, ngọn lửa hung tàn mới chịu lụi dần, chỉ còn lại những cột khói trắng bốc lên nghi ngút giữa mùi khét nồng nặc.
Căn lán thợ lặn quen thuộc giờ chỉ còn đống tro tàn đen ngòm. Toàn bộ nhật ký con nước, bản vẽ đáy sông tích góp bao năm đã hóa thành tro bụi. Bá Khiêm đứng lặng giữa đống đổ nát, bàn tay đen sạm nhọ nồi siết chặt, ánh mắt xót xa khôn xiết.
“Chú Ba, lại đây coi cái này!” Tiếng thằng Nhâm vang lên gấp gáp từ mé bụi chuối sau lán.
Bá Khiêm cùng Đại úy Tuấn bước nhanh tới. Nhâm đang dùng củi khều chiếc can nhựa hai mươi lít bị cháy sém, mùi xăng bốc lên nồng nặc. Nhưng điều khiến ruột gan Bá Khiêm thắt lại là mảnh vải đen thô rách mắc trên hàng rào kẽm gần đó. Trên nền vải cháy dở, hình thêu con thủy quái há miệng nuốt vầng trăng bằng chỉ đỏ hiện rõ mồn một.
“Đúng là tụi cát tặc của thằng Bảy Càng!” Nhâm gầm lên, mắt long sòng sọc. “Hết đâm xuồng, chém người, giờ lại tới phóng hỏa đốt nhà! Tụi nó coi trời bằng vung rồi!”
Đại úy Tuấn cẩn thận thu giữ mảnh vải và chiếc can xăng, nét mặt đanh lại “Hành vi này đã cấu thành tội hủy hoại tài sản và đe dọa giết người. Tụi nó đang hoảng loạn vì biết chúng ta đã nắm giữ chứng cứ dưới đáy sông.”
Chưa kịp dứt lời, từ mé miếu Bà Cậu cách đó một quãng ngắn bỗng rộ lên tiếng khóc mếu máo của bà con lối xóm:“Trời đất quỷ thần ơi! Ai thất đức dữ dằn vậy nè!”
Bá Khiêm vội vã rảo bước về phía ngôi miếu cổ. Dưới ánh trăng mờ đục, người dân xóm vạn đò đang vây quanh cọc tràm cắm cờ trước sân miếu. Bà Tư Hạt đứng tựa lưng vào gốc bồ đề, tay run run lần tràng hạt, khóe mắt già nua ngân ngấn lệ.
Trên thân cọc tràm, một tấm ván gỗ cắm ngập mũi dao bầu nhọn hoắt. Dòng chữ viết bằng sơn đỏ tươi chảy ròng ròng như vệt máu “Khôn hồn thì rút đơn, trả lại mắt xích bùa chú đáy vàm. Hết đêm nay không giao nộp, miếu Bà Cậu và cả xóm vạn đò này sẽ thành biển lửa!”
Lời đe dọa trắng trợn khiến đám đông xôn xao sợ hãi. Đàn bà ôm con khóc thút thít, cánh đàn ông chài lưới nhìn nhau thảng thốt. Ngôi miếu Bà Cậu là chỗ tựa tâm linh của dân sông nước, nếu bị thiêu rụi thì coi như dải cù lao này mất đi chốn chở che.
“Bà con đừng hoang mang!” Bá Khiêm bước lên bậc tam cấp sân miếu, giọng trầm vang đĩnh đạc át đi tiếng ồn ào. “Nghiêm Bá Khiêm này sống trên khúc sông này gần trọn đời người, chưa từng khuất phục trước sóng dữ, nay càng không lùi bước trước lũ cướp cát đào mồ. Có Cảnh sát đường thủy và pháp luật ở đây, tui lấy danh dự ba đời thợ lặn đoan chắc với bà con: không kẻ nào dám đụng tới một viên gạch của ngôi miếu này!”
Đại úy Tuấn cũng bước tới, dõng dạc tuyên bố “Lực lượng tuần tra sẽ cắm chốt bảo vệ nghiêm ngặt khu vực cù lao và miếu Bà Cậu suốt ngày đêm. Lệnh bắt khẩn cấp Bảy Càng đang được phê chuẩn. Xin bà con tuyệt đối an tâm!”
Lời lẽ cương trực của Bá Khiêm cùng sự hiện diện của lực lượng công an giúp bà con xóm vạn đò dần vơi đi nỗi khiếp sợ. Mọi người bắt đầu tản ra canh gác mé sông và thu dọn hiện trường cháy.
Bá Khiêm thở dài, quay lại định gọi thằng Nhâm vào miếu phụ khiêng hòm đồ nghề. Nhưng chung quanh chỉ có bóng đêm mịt mùng và tiếng gió chướng rít qua kẽ lá.
“Nhâm ơi! Thằng Nhâm đâu rồi?”
Bà Tư Hạt móm mém lên tiếng “Hồi nãy già này thấy thằng nhỏ xách cái xô thiếc chạy tót ra mé rạch Cổ Cò, nó bảo múc thêm nước tạt cho tắt hẳn mấy cái cọc tràm còn ngún khói…”
Một linh cảm chẳng lành bất chợt bóp nghẹt lồng ngực Bá Khiêm. Rạch Cổ Cò um tùm rặng dừa nước tối om, lại là lối rút lui quen thuộc của đám cát tặc.
“Mau ra rạch!” Bá Khiêm hô lớn, ruột gan cồn cào như có lửa đốt.
Đúng lúc ông cùng Đại úy Tuấn vừa lao tới mé rạch thì một tiếng máy đuôi tôm rú gầm dữ dội xé toạc màn đêm. Dưới lòng rạch sâu hun hút, một chiếc ghe vỏ lãi lướt như tên bắn, xé nước lao vụt ra hướng sông lớn.
Bóng một gã đàn ông bịt mặt đứng ở đuôi ghe cười sằng sặc. Gã vung tay ném mạnh một vật thể lên bãi bùn lầy lội dưới chân Bá Khiêm, rồi gằn giọng the thé vang vọng khắp mặt nước “Bá Khiêm! Muốn thằng ranh sống sót thì nội đêm mai mang mắt xích đồng tới bến cát chuộc mạng! Báo công an nửa lời, xác nó sẽ làm mồi cho cá dưới rốn xoáy Đầu Sấu!”
Tiếng máy ghe rú vang rồi mất hút vào màn đêm đen đặc của dòng Vàm Đầu Sấu.
Bá Khiêm quỳ sụp xuống bãi bùn, đôi tay run rẩy nhặt vật vừa bị ném lại. Đó là chiếc nón tai bèo sờn rách quen thuộc của thằng Nhâm – chiếc nón mà đệ tử ông vẫn đội sớm hôm lặn lội. Trên vành nón sờn cũ, những vệt máu tươi còn ấm nóng thấm đẫm từng sợi vải, đỏ lòm dưới ánh trăng tàn.
Bạn thích truyện này?
Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!
