Chương 12: Đàn Tràng Bên Vàm
Chiếc băng ca phủ bạt xám vội vã đưa thi thể người tài công xấu số rời khỏi bãi bồi cù lao Cát Lở, để lại vệt nước bùn rỉ rích trên đám cỏ chỉ mé sông. Nhưng dấu năm ngón tay đen sẫm, sâu hoắm rách cả thớ thịt in hằn trên cổ họng kẻ tử nạn vẫn kịp gieo rắc nỗi kinh hoàng tột độ vào mắt những người dân vạn chài đang tụ tập bên mé rạch.
Tin dữ lan nhanh như vết dầu loang theo con nước ròng. Cả xóm vạn đò Bình Thạnh bàng hoàng rúng động. Người ta kháo nhau rằng rốn xoáy Vàm Đầu Sấu đã mở miệng đòi mạng, rằng vong hồn hàng trăm phu phen dưới nghĩa địa chìm sau bao năm bị vòi rồng cày xới nay đã bẻ gãy bùa ếm, trỗi dậy trừng phạt những kẻ dám kinh động chốn an nghỉ ngàn thu. Mấy gia đình có con em đi làm thuê trên các sà lan cát lậu mặt mày cắt không còn hột máu, dắt díu nhau chạy thốc lên mũi cồn tìm đến ngôi miếu Bà Cậu cổ kính nép mình dưới rặng bần già.
Bà Tư Hạt ngồi trên bậu cửa miếu, chiếc lưng còng queo tựa vào cây cột gỗ mun lên nước bóng loáng. Đôi mắt đùng đục của bà nhìn trân trân ra ngã ba sông đang cuộn trào phù sa đỏ quạch, tay run run têm miếng trầu cay “Nợ máu đáy sông tới hồi phải trả rồi mấy đứa ơi. Xương cốt người xưa bị xới tung, cọc mộc tiêu trấn hà bị giật mất, long mạch cù lao đứt đoạn thì làm sao mà yên ổn cho đặng. Chiều nay, phải lập đàn tràng cầu siêu bạt độ, dâng chén cơm lạt tạ tội với tiền nhân, họa may mới xoa dịu được phần nào oán khí.”
Nghe lời bà cụ, người dân lập tức chia nhau mỗi người một tay. Chiều muộn buông xuống nhuộm đỏ ối rặng bần xơ xác. Nghiêm Bá Khiêm cùng Thành Nhâm có mặt từ sớm phụ giúp bà con. Cánh tay trái của Nhâm sau khi được y sĩ trạm y tế khâu kín vẫn còn quấn lớp băng trắng toát, nhưng thằng nhỏ nằng nặc không chịu ngồi yên, cứ dùng một tay còn lại thoăn thoắt khiêng từng tấm ván, phụ chú Ba chằng néo mấy cây tre rạp che gió chướng.
“Tay mày còn đau, ra đằng kia ngồi nghỉ đi, để tao làm cho!” Bá Khiêm giật lấy khúc dây chuối trên tay đệ tử, gằn giọng rầy nhẹ.
Nhâm lắc đầu quầy quậy, ánh mắt sáng quắc nhìn về phía hạ lưu “Con không sao đâu chú Ba. Nhìn cảnh này con sốt ruột quá. Thằng Bảy Càng làm ác để liên lụy tới bao nhiêu mạng người dưới sông, mối thù của ba con với món nợ của bà con cù lao này, con không thể đứng ngó được.”
Bá Khiêm thở dài, vỗ nhẹ lên vai đứa cháu côi cút. Ông hiểu ngọn lửa căm hờn và nỗi day dứt đang thiêu đốt lồng ngực thằng nhỏ. Hai mươi bảy năm làm nghề lặn sông cắm tiêu luồng lạch, chứng kiến biết bao biến động của dòng đời, chưa bao giờ ông thấy lòng mình nặng trĩu như buổi hoàng hôn hôm nay.
Bàn hương án lớn được dựng ngay trước sân miếu Bà Cậu, kê sát mép bờ đất đang run rẩy theo từng đợt sóng vỗ. Bà Tư Hạt tự tay thắp ba cây nhang trầm c*m v** lư đồng cổ, xếp đặt từng mâm cơm lạt đạm bạc gồm đĩa rau luộc, chén kho quẹt chay, mấy vắt xôi nếp dẻo cùng hàng trăm chén cháo hoa trắng tinh hướng thẳng ra rốn xoáy Đầu Sấu. Trên mâm cúng, ngoài hương hoa quả phẩm còn có chín chiếc đèn hoa đăng kết bằng bẹ chuối tươi, mỗi chiếc cắm một ngọn nến đỏ thắm, tượng trưng cho chín cọc mộc tiêu phong thủy mà tiền nhân đã dày công cắm sâu vào lòng đất mẹ một trăm tám mươi năm trước.
Trời sụp tối rất nhanh. Khi ánh hoàng hôn cuối cùng tắt lịm sau rặng dừa nước mé rạch Cổ Cò, cả khúc sông Vàm Đầu Sấu chìm vào một màu đen đặc quánh. Mặt nước phẳng lặng một cách bất thường, không một gợn sóng lăm tăm, tựa hồ dòng sông đang nín thở chờ đợi một cơn giông bão ngầm từ cõi u minh.
Boong… boong… boong…
Tiếng chuông gia trì bằng đồng cổ vang lên từng nhịp trầm hùng, xé tan bầu không khí tĩnh mịch. Tiếng mõ điểm đều đặn hòa cùng lời kinh siêu độ bạt độ trầm bổng, ai oán của bà Tư Hạt và các bậc cao niên trong làng cất lên, quyện chặt lấy màn đêm sông nước “Nam mô tiếp dẫn đạo sư A Di Đà Phật… Cúi xin chư vị tiền hiền mở cõi, phu phen đào kênh khẩn hoang nằm lại đáy sâu ba mươi hai sải tay… Lòng trần mê muội lỡ phạm chốn linh thiêng, nay xin dâng tấc lòng thành cúi đầu sám hối…”
Đúng lúc lời kinh vang vọng đến câu chuyển tiếp, một luồng gió chướng lạnh buốt thấu xương bất thần từ ngã ba sông thổi thốc vào bờ. Ngọn lửa trên các cây nến đỏ bỗng chốc nghiêng ngả, chuyển sang màu xanh lét ma quái.Từ giữa rốn xoáy Vàm Đầu Sấu, một màn sương trắng đục đặc quánh như sữa bỗng chốc bốc lên cuồn cuộn. Lớp sương mù dày đặc trườn trên mặt nước, nhanh chóng nuốt chửng khúc sông rồi tràn lên bờ cồn, phủ kín rặng bần già và bao bọc toàn bộ khu vực đàn tràng. Trong màn sương buốt giá, tiếng gió rít qua những thân bần xơ xác mé bến lở bỗng biến đổi, nghe như hàng trăm tiếng khóc than nghẹn ngào, ai oán dội lên từ bùn sâu “Trả… trả lại mồ mả cho chúng tao…”
“Đau đớn quá… vòi rồng xé nát thân xác rồi…”
Bà con xóm vạn đò rụng rời tay chân, nhiều người phụ nữ sợ hãi ôm chặt lấy con thơ, sụp quỳ xuống nền đất lầm rầm khấn vái.
Bá Khiêm khẽ rùng mình. Đứng trước bàn thờ khói hương nghi ngút, ông cảm nhận rõ từng thớ thịt trên người run lên theo từng nhịp dội từ lòng sông. Không chần chừ, ông bước nhanh xuống mé sàn ván của bến đò miếu Bà Cậu, rút thanh đồng định thủy gia truyền giắt bên hông cắm sâu ngập mũi kim loại vào làn nước lạnh ngắt. Đoạn, ông quỳ một gối, khẽ nghiêng đầu áp sát tai vào báng gỗ xoan đào.
Cộc… cộc… u… u…
Âm ba từ đáy nước sâu ba mươi hai sải tay lập tức truyền thẳng vào màng nhĩ ông. Đó không phải là tiếng nước chảy xiết thông thường, mà là tiếng gõ nhịp khô khốc, u uất dội lên từ những chiếc cọc mộc tiêu còn sót lại và lớp bùn lầy nơi nghĩa địa chìm.
Lắng nghe từng hồi âm phong buốt giá, Bá Khiêm bỗng bàng hoàng thấu suốt. Tiếng dội từ đáy sông đêm nay tuy thê thiết, cuồng nộ nhưng lại không hề chứa đựng ác ý nhắm vào dân làng vô tội. Hơn ba trăm linh hồn phu phen mở cõi không muốn làm hại bà con cù lao lam lũ. Họ chỉ căm hận lũ cát tặc tàn độc đã dùng vòi rồng cày xới xương cốt tổ tiên, căm hận trận đồ xích sắt bùa ếm tà ma giam cầm họ, và phẫn nộ trước lòng tham vô đáy đã nhổ đi cọc mộc tiêu số bảy – chiếc cọc giữ mạch sống cho cả một vùng sông nước.
“Tiền nhân không trách bà con mình đâu…” Bá Khiêm ngẩng đầu lên, giọng trầm đục nhưng chắc nịch hướng về phía bà Tư Hạt và dân làng. “Người xưa chỉ đòi lại chốn an nghỉ và cọc tiêu trấn hà thôi!”
Dứt lời, một cơn lốc xoáy nhỏ bất chợt quét qua mặt sông, thổi bạt làn sương mù dày đặc dạt sang hai bên mé rạch.
Giữa khoảng trống mờ ảo đầy khói hương ấy, trên ngọn sóng dập dềnh cách bến miếu không xa, một bóng đen cao lớn dị thường lững lững hiện lên. Bóng đen ấy toàn thân ướt sũng bùn đất phù sa, mái tóc dài phủ kín vai, quanh người toát ra luồng tử khí lạnh buốt nhưng uy nghi như một vị tướng lĩnh thời xưa.
Bá Khiêm trợn trừng hai mắt, hơi thở nghẹn lại nơi cuống họng. Đó chính là hình bóng của Phu trưởng Cố Hậu – người từng hiện về trong cơn mê của ông ở chòi canh!
Bóng đen không tiến vào bờ, chỉ đứng sừng sững trên đầu ngọn sóng dữ, đôi mắt rực lên hai đốm lân tinh đỏ quạnh nhìn thẳng vào Bá Khiêm. Rồi chầm chậm, cánh tay khẳng khiu đầy vết bùn phèn của người cõi âm vươn lên, ngón tay đen kịt chỉ dứt khoát về phía cửa rạch Cổ Cò – nơi xưởng phế liệu của Bảy Càng đang cất giấu cọc mộc tiêu số bảy.
Một luồng cảm ứng rùng rợn dội thẳng vào tâm thức Bá Khiêm như một lời cảnh báo bằng máu: Con nước rằm tháng mười một sắp tới gần, nếu không kịp đoạt lại mộc tiêu số bảy để trấn lại long mạch trước khi con nước rong tràn về, toàn bộ chân móng cù lao Cát Lở sẽ sụp đổ, nuốt trọn cả xóm làng xuống đáy vực sâu.
Bạn thích truyện này?
Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!
