Chương 10: Trạm Gác Tử Thần
Đốm tàn đỏ của điếu thuốc lá vừa lóe lên trong kẽ lá, Thang Nhật Tấn lập tức dán chặt thân mình xuống mặt đất ẩm ướt dưới chân gốc dướng cổ thụ. Cậu nín thở, hai cánh tay ghì sát lồng ngực, lớp bùn non trộn ngải cứu bết chặt vào da thịt giúp cậu hòa lẫn vào bóng tối đặc quánh của triền đồi Vực Chợ Ngọc. Tiếng xích sắt lách cách khô khốc vang lên lần nữa, kèm theo tiếng đế giày đinh nện trên mặt đá tai mèo. Đó là âm thanh của kim loại va chạm từ một rào chắn dã chiến do giặc dựng lên để chốt chặn hẻm núi độc đạo.
Tấn nằm bất động, đôi tai nhỏ giỏng lên thu nhận từng biến động nhỏ nhất của màn đêm. Cậu nhớ như in lời anh Bách từng dặn dò lúc nửa đêm bên góc hang Lũng Vàng: giặc có thể giấu bóng hình sau bóng tối, nhưng không thể bịt miệng muôn loài của rừng già. Giữa sương đông lạnh buốt, tiếng dế mèn và bọ đêm vẫn rả rích cất lên từ những bụi cỏ ven triền dốc phía bên trái. Nhưng ngay tại quãng đường mòn trước mặt, một khoảng lặng chết chóc bao trùm. Không có một tiếng dế ri ri, cũng chẳng có tiếng côn trùng gặm lá. Đám sâu bọ đã câm bặt trước mùi thuốc súng, mùi khói thuốc lá và hơi thở của quân thù.
Khoảng im ắng bất thường ấy đã chỉ rõ cho Tấn vị trí hỏa lực của giặc. Cậu nhích nhẹ cằm, đôi mắt sáng quắc nhìn xuyên qua làn sương mù mỏng manh. Cách chỗ cậu nấp chừng hai mươi thước, nơi ngã ba lối mòn vắt qua hẻm núi, hai tên lính dù viễn chinh to lớn đang tuần tiễu qua lại. Chúng đội mũ nồi lệch, ngực mang tiểu liên Thompson đen trùi trũi, họng súng chúc xuống đất nhưng ngón tay luôn áp sát vành cò. Ngay cạnh gốc vông xơ xác bên mép hẻm, một ụ bao cát xếp hình vòng cung án ngữ. Thấp thoáng sau bờ lũy là một khẩu súng máy chĩa thẳng ra ngã ba đường rừng, sẵn sàng quét sạch bất cứ ai lọt vào tầm ngắm.
Tấn cắn nhẹ bờ môi khô nứt. Lối mòn độc đạo này là con đường duy nhất vượt qua triền đồi để tới Sở chỉ huy Trung đoàn. Muốn đi vòng qua các vách đá dựng đứng phía sau thì mất thêm mấy quãng đường rừng, trong khi canh ba đã tàn và thời khắc ba giờ sáng đang cận kề. Nếu không trao mật lệnh trước giờ hẹn, kế hoạch nổ súng nghi binh lúc năm giờ sáng sẽ lỡ dở, hai mươi tám thương binh cùng đại đội pháo binh ở Lũng Vàng sẽ gặp nguy hiểm khôn lường. Cậu không được phép lùi bước.
Phải mở một con đường sống ngay trước mắt giặc. Bàn tay chai sần của Tấn lần ra sau lưng, chạm vào chuôi con dao quắm quen thuộc. Chiếc bao đeo bằng sợi đay dày dặn vẫn ôm khít lưỡi thép sắc ngọt mà anh Bách đã dốc sức mài giũa cho cậu trước lúc lên đường. Lời căn dặn của người trung sĩ giao liên lại vang vọng bên tai: “Nhóc Tấn à, con thú rừng khi gặp thợ săn phục kích không bao giờ lao thẳng vào mũi tên. Nó sẽ làm cho cây rung, lá rụng ở một ngả khác để thợ săn chệch mắt, rồi mới êm ru lướt qua sau lưng.”
Tấn khẽ rà bàn tay trên lớp đất bùn ven gốc dướng, chạm phải một hòn đá cuội chắc nịch vùi dưới lớp mùn mục. Cậu cẩn thận nhấc hòn cuội lên, rút nhẹ lưỡi dao quắm ra khỏi bao. Cậu dùng sống dao gọt phẳng những gờ sỏi bám dính ngoài vỏ đá để khi xé gió bay đi không bị chệch hướng, rồi tra dao trở lại bao lưng thật êm ái. Phía bên kia ngã ba đường mòn, đối diện với ụ súng máy của giặc, là một vạt le gai um tùm mọc ken dày dọc theo mép đá dốc. Nơi ấy đầy lá khô và cành le mục dễ bắt tiếng động. Tấn hít một hơi thật sâu, dồn sức mạnh của cánh tay rắn rỏi vào năm ngón tay, vung mạnh cổ tay ném hòn đá cuội qua khoảng trống không trung.
Hòn cuội xé màn sương đêm, bay vút qua đầu hai tên lính dù rồi giáng thẳng vào giữa bụi le gai đối diện.
Tiếng cành lá xào xạc rộ lên khô khốc, kèm theo tiếng le gãy răng rắc, hệt như một con thú ăn đêm xáo xác lao qua bụi rậm.
Hai tên lính gác giật nảy mình. Đốm thuốc lá trên môi một tên rơi tọt xuống đất, tóe lên vài tia tàn lửa nhỏ rồi tắt ngấm.“Qui vive?” – Một tên lính dù quát khẽ bằng giọng bực dọc, nòng tiểu liên Thompson lập tức giương lên.
“Bắn đi! Có động!” – Tên còn lại rít qua kẽ răng.
Không chút do dự, hai loạt đạn tiểu liên đanh gọn nổ giòn giã “Tằng tằng tằng! Tằng tằng!”
Lửa đầu nòng chớp nháy liên hồi, tiện đứt những cành le gai lả tả. Khói súng khét lẹt tỏa ra mù mịt, át đi mọi tiếng động xung quanh. Tên xạ thủ súng máy sau bờ bao cát cũng chồm dậy, xoay nòng thép về hướng bụi le, dán mắt vào nơi lá cây lay động. Toàn bộ hỏa lực của trạm gác dồn hết sang mạn đối diện.
Chính là thời cơ! Tấn thu mình như một chú sóc rừng, lập tức trườn tới. Dưới làn khói súng mờ ảo và tiếng đạn nổ rền vang, cậu áp sát bụng xuống lớp cỏ mục, thoăn thoắt bò qua vạt dứa dại và những hốc đá tai mèo lởm chởm bên sườn đồi. Những mũi gai nhọn cào rách thêm lớp áo chàm bạc màu, cứa vào bả vai và vết xước ở mạn sườn, nhưng Tấn cắn răng chịu đựng. Đôi bàn tay chai sạn thoăn thoắt bấm vào từng gờ đá sắc, kéo thân hình nhỏ thon lướt đi êm ru trên nền đất ẩm.
Cậu trườn qua sườn chốt phục kích lúc nửa đêm về sáng, chỉ cách ụ súng máy của giặc chừng mười sải chân. Hơi nóng và mùi khói thuốc từ đám lính viễn chinh phả ra khét lẹt, nhưng lớp bùn non trộn ngải cứu phủ kín người đã át sạch mùi da thịt của cậu bé mười ba tuổi. Lũ giặc chỉ mải bắn cảnh giới vào bụi rậm xa xôi mà không hay biết Tấn đã lướt qua ngay sát nách.
Vượt qua bờ đá chắn sau trạm phục kích, Tấn lách mình vào rặng cây rậm rạp phía sau sườn đồi. Tiếng súng của hai tên lính dù thưa dần rồi tắt hẳn. Thoát khỏi tầm kiểm soát của họng súng máy, Tấn khẽ thở hắt ra một hơi dài, đưa tay chạm nhẹ vào ống nứa trước ngực để đoan chắc mật lệnh vẫn nguyên vẹn. Đôi chân trần của cậu rảo bước trên con đường mòn phủ lá mục, hướng thẳng về phía Sở chỉ huy Trung đoàn.
Nhưng vừa vượt qua chốt gác chưa được bao xa, một tiếng còi đồng xé toạc màn đêm bỗng rúc lên từng hồi inh ỏi từ phía bờ sông dội tới. Ngay sau hồi còi báo động, từ con đường mòn phía sau lưng, tiếng sủa man dại và tiếng gầm gừ dữ tợn của bầy chó săn rộ lên rầm rập, xé tan sự tĩnh mịch của rừng già. Bầy chó săn của lính dù đã đánh hơi thấy dấu vết và đang điên cuồng lao như tên bắn đuổi riết sau lưng cậu!
Bạn thích truyện này?
Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!
