Chương 2: Nợ Lạ Dưới Mái Tranh

Ba tên gia đinh lực lưỡng mang theo gậy gộc huỳnh huỵch xông thẳng vào khoảng sân đất nhỏ hẹp. Kẻ đi đầu mặt rỗ chằng chịt, khóe môi nhếch lên nụ cười đểu cáng, vừa bước qua cánh cổng liếp gãy nát vừa quét đôi mắt ti hí khắp gian nhà tranh nghèo nàn.

Mông Đại Dũng lập tức bước chệch chân trái sang một bước, cả tấm thân cao lớn sạm màu nắng gió dang rộng ra, che kín Thẩm Tố Lan và Hoài Sơn ở phía sau. Đôi bàn tay thô ráp của người cha siết chặt thành nắm đấm, gân xanh nổi cuồn cuộn trên cánh tay dính đầy bụi tre, ánh mắt quắc lên vẻ cảnh giác và phẫn nộ. Phía sau lưng ông, Thẩm Tố Lan run rẩy nắm chặt lấy góc áo nâu của chồng, hơi thở dồn dập vì sợ hãi.

Hoài Sơn đứng bên cạnh mẹ, lồng ngực đập từng nhịp thình thịch nhưng ánh mắt cậu lại tĩnh lặng đến lạ thường. Đôi bàn tay nhỏ bé của cậu siết chặt mép bàn gỗ. Cậu nhận ra ngay kẻ cầm đầu—gã là Trương Bưu, tay sai đắc lực chuyên đòi nợ thuê cho Trịnh Bá Hộ ở trấn Thanh Hà.

“Mông câm, đừng có giương mắt ếch ra nhìn lão tử!” Tên Trương Bưu cười khẩy một tiếng the thé. Gã thọc tay vào trong ngực áo lụa xám, rút ra một tờ giấy có viền ố vàng rồi vung mạnh tay.

Tờ giấy bay vèo trong không khí, đập thẳng vào ngực Mông Đại Dũng rồi rơi xột xoạt xuống nền đất dưới chân ông.

Trên mặt giấy mở hé, một dấu điểm chỉ bằng mực đỏ hiện ra đỏ quạch như vết máu tươi.

“Nhìn cho kỹ đi!” Trương Bưu chống chiếc gậy gỗ xuống đất, cất giọng the thé đầy hống hách: “Thằng em ruột Mông Nhị Thắng của ngươi tối qua đã nướng sạch ba mươi lượng bạc trắng vào sòng bạc của Trịnh lão gia ở phố Đông! Tiền thua bạc không có trả, nó đã đem toàn bộ văn tự gian nhà và mảnh đất hương hỏa ven bến sông này ra thế chấp bảo lãnh. Còn có cả dấu hoa tay đỏ chót của ngươi đây này!”

Nghe đến cái tên Mông Nhị Thắng, sắc mặt Mông Đại Dũng thoắt cái trắng bệch. Đôi mắt người cha đờ đẫn, bàng hoàng trước từng lời quát tháo rành rọt của tên tay sai.

Thẩm Tố Lan thảng thốt kêu lên một tiếng nghẹn ngào “Cái gì... ba mươi lượng bạc trắng? Chú Nhị Thắng... chú ấy làm sao có thể...”

“Làm sao à?” Tên gia đinh đứng bên cạnh cười sằng sặc, chen vào: “Nó điểm chỉ xong, lừa Mông câm ấn tay bảo lãnh rồi ôm bạc vụt chạy trốn biệt tăm biệt tích rồi! Giờ Trịnh lão gia nhà ta nắm đằng chuôi. Có nợ thì phải trả, đạo lý ngàn đời nay là thế!”

Trương Bưu bước lên nửa bước, chĩa thẳng đầu gậy vào giữa ngực Mông Đại Dũng, gằn từng tiếng cay độc “Trịnh lão gia nể tình xóm giềng cùng bến sông nên mới sai bọn ta tới báo trước một tiếng. Cho cả nhà các ngươi nội trong ngày hôm nay phải có câu trả lời rõ ràng: một là gom đủ ba mươi lượng bạc trắng nộp đủ cho Trịnh phủ, hai là cuốn xéo đồ đạc nhường đất. Bằng không, đừng trách bọn ta đem người san phẳng gian nhà tranh rách nát này, quẳng sạch nồi niêu xuống dòng Cẩm Giang!”

Dứt lời đe dọa, Trương Bưu nhổ một bãi nước bọt xuống góc sân rồi vung tay ra hiệu cho hai tên đàn em quay gót. Ba bóng người nghênh ngang sải bước ra khỏi cổng liếp, để lại sau lưng tiếng cười cợt nham nhở và bụi đất bay mù mịt trong gió sớm.

Sân nhà bỗng chốc rơi vào một khoảng lặng đặc quánh đến ngột ngạt. Tiếng sóng vỗ ì oạp ngoài bến sông Cẩm Giang nghe xa xăm và lạnh lẽo khôn cùng.

Mông Đại Dũng run rẩy quỳ sụp xuống, nhặt tờ giấy nợ dưới đất lên. Dưới ánh sáng ban mai nhợt nhạt, dấu hoa tay màu đỏ của chính ngón tay cái ông hiện rõ mồn một bên cạnh nét chữ ngoằn ngoèo. Người cha như sực nhớ ra điều gì, sắc mặt chuyển từ kinh HSng đau đớn cùng cực. Cách đây ba hôm, Mông Nhị Thắng xách vò rượu sang, ngon ngọt nhờ ông điểm chỉ vào một tờ giấy mà gã nói là giấy làm đơn xin giảm thuế bến đò cho người nghèo. Vì không biết chữ, lại cả tin vào người em ruột thịt duy nhất, ông đã dại dột ấn ngón tay vào chén mực đỏ...

Uất nghẹn trào dâng nơi cuống họng, Mông Đại Dũng vung nắm đấm tự nện thùm thụp vào ngực mình. Bàn tay thô ráp đấm mạnh vào lồng ngực gầy guộc phát ra những tiếng trầm đục xót xa. Người cha câm lặng không thể thốt nên lời trần tình, khóe mắt trũng sâu đỏ hoe, chỉ có thể phát ra những tiếng “ư... ư...” nghẹn ngào, xé lòng từ trong lồng ngực. Ông tự trách bản thân tàn tật, ngu muội, để rồi rước họa giáng xuống đầu vợ con.

“Chàng ơi! Đừng làm vậy mà chàng!” Thẩm Tố Lan nhào tới, hai tay ôm chặt lấy cánh tay đang đấm ngực của chồng, nước mắt giàn giụa trên đôi gò má gầy gò. Bà nghẹn ngào nức nở: “Trời ơi, ba mươi lượng bạc... nhà mình đào đâu ra ngần ấy tiền bây giờ...”

Như sực nhớ ra điều gì trong cơn hoảng loạn, Thẩm Tố Lan vội buông tay chồng, loạng choạng chạy tót vào trong buồng tối. Tiếng then gỗ mở hòm kêu cọt kẹt gấp gáp. Chỉ một thoáng sau, bà run rẩy bước ra, trên tay nâng niu một chiếc khăn vải điều cũ kỹ đã sờn rách mép.

Mở lớp vải điều ra, bên trong lộ ra một chiếc thoa bạc nhỏ nhắn chạm hình hoa cúc giản dị. Chiếc thoa đã ngả màu xám bạc theo năm tháng, nhưng từng đường nét vẫn còn vẹn nguyên sự thanh tao.“Đây là kỷ vật duy nhất mẹ thiếp để lại trước lúc lâm chung...” Thẩm Tố Lan vừa khóc vừa run rẩy nắm chặt chiếc thoa, giọng nói lạc đi: “Thiếp mang nó ra tiệm cầm đồ ngoài phố lớn... Dù chẳng được bao nhiêu, nhưng gỡ gạc được đồng nào hay đồng ấy... nhỡ đâu người ta rủ lòng thương...”

Chiếc thoa bạc này, kiếp trước mẹ cũng từng mang đi cầm cố. Nhưng tiệm cầm đồ của Trịnh gia đã ép giá, chỉ trả vỏn vẹn vài trăm văn tiền lẻ rồi nuốt trọn kỷ vật, khiến mẹ ôm hận khóc ròng suốt bao đêm đến mòn mỏi đôi mắt.

“Mẹ, không được!”

Một bàn tay nhỏ nhắn nhưng ấm áp và rắn rỏi bất ngờ vươn ra, nhẹ nhàng giữ chặt lấy cổ tay Thẩm Tố Lan.

Hoài Sơn bước tới, ánh mắt kiên định nhìn thẳng vào đôi mắt đẫm lệ của mẹ. Cậu lắc đầu, giọng nói từ tốn mà chắc nịch “Mẹ cất thoa bạc đi. Đây là kỷ vật của bà ngoại trao lại cho mẹ, dứt khoát không thể đem cầm cố. Ba mươi lượng bạc là món nợ khổng lồ như núi, chiếc thoa của mẹ dẫu có bán đi cũng chỉ như muối bỏ biển, chẳng thấm tháp vào đâu mà lại mất đi vật quý thiêng liêng của gia đình.”

Thẩm Tố Lan sững sờ nhìn con trai. Ánh mắt bình tĩnh, sâu thẳm của Hoài Sơn dường như có một sức mạnh vô hình xoa dịu nỗi hoảng loạn đang cào xé tâm can bà.

Hoài Sơn quay sang, bước tới bên cạnh cha. Cậu quỳ một gối xuống nền đất, vươn hai bàn tay nhỏ bé ôm lấy bàn tay chai sần, lạnh ngắt của Mông Đại Dũng. Cậu nhìn thẳng vào đôi mắt đỏ ngầu, đầy ân hận của cha, cất giọng rành rọt, ấm áp “Cha, cha nghe con nói này. Chuyện này hoàn toàn không phải lỗi của cha. Là chú Nhị Thắng lòng lang dạ thú, lợi dụng sự lương thiện của cha để lừa gạt. Trời có mắt, người làm ác ắt sẽ có báo ứng. Cha đừng tự hành hạ bản thân mình nữa, cha mà ngã xuống thì mẹ con con biết nương tựa vào ai?”

Mông Đại Dũng sững sờ. Đôi bàn tay run rẩy của người cha từ từ hạ xuống. Nhìn khuôn mặt non nớt của đứa con trai mười một tuổi nhưng đôi mắt lại sáng ngời vẻ hiểu chuyện và kiên cường, cõi lòng đau đớn của ông như được một dòng nước ấm tưới mát. Ông khẽ chớp mắt, một giọt nước mắt nóng hổi lăn dài qua vết sẹo nơi gò má, rơi xuống mu bàn tay con. Ông đưa bàn tay thô ráp xoa nhẹ lên vai Hoài Sơn, khẽ gật đầu làm dấu: Cha hiểu rồi.

Hoài Sơn siết chặt tay cha, nở một nụ cười ấm áp “Trời không triệt đường sống của người lương thiện. Nhà ta có tay nghề chuốt đũa của cha, có tài muối dưa ủ tương của mẹ. Từ hôm nay, con sẽ cùng cha mẹ làm lụng. Cha vót đũa, mẹ muối thêm nhiều vại dưa cải, con sẽ đem ra bến sông chào bán cho khách thương hồ. Tích tiểu thành đại, kiếm từng đồng tiền lẻ, gom góp từng ngày, gia đình ta ba người đồng lòng, nhất định sẽ tìm ra lối thoát!”

Lời nói chất phác mà đanh thép của đứa trẻ như thắp lên ngọn lửa hy vọng giữa gian nhà tranh đang chìm trong bóng tối bế tắc. Thẩm Tố Lan gạt nước mắt, nghẹn ngào gật đầu, cẩn thận gói chiếc thoa bạc cất lại vào túi áo. Mông Đại Dũng hít sâu một hơi, quệt vạt áo lau khô giọt nước mắt, ánh mắt ánh lên vẻ kiên nghị vốn có của một người thợ mộc cả đời chịu thương chịu khó.

Suốt buổi chiều hôm ấy, gian nhà tranh xóm Bến Tranh không còn tiếng than thở bi lụy. Mông Đại Dũng ngồi miệt mài ngoài hiên, từng nhát dao bài lướt thoăn thoắt trên thân tre cật, chuốt ra những đôi đũa thẳng tắp, nhẵn bóng. Thẩm Tố Lan tất bật bên giếng khơi, rửa sạch từng bẹ cải non xanh mướt rồi đem hong gió. Hoài Sơn thoăn thoắt gom từng mớ phoi bào gọn gàng cho vào chái bếp, rồi cẩn thận dùng dây lạt buộc đũa thành từng bó ngay ngắn mười đôi một. Mùi tre tươi ngai ngái quyện cùng mùi rơm rạ xua bớt đi không khí ảm đạm của món nợ lớn.

Trời vừa nhá nhem tối, sương mù từ dòng Cẩm Giang bắt đầu lan tỏa vào bờ. Ngọn đèn dầu hạt lạc leo lét được thắp lên giữa chiếc bàn gỗ con trong gian bếp. Ba người quây quần bên mâm cơm chiều đạm bạc với bát canh rau tập tàng và đĩa dưa chua. Hoài Sơn vừa bưng bát cơm vừa tính toán cùng mẹ tiền mua thêm muối hạt và hũ sành để muối lứa dưa mới, ánh mắt ai nấy đều ánh lên niềm hy vọng mong manh.

Thế nhưng, mâm cơm ấm cúng chưa kịp vơi thì từ đầu ngõ xóm Bến Tranh bỗng rộ lên tiếng bước chân rầm rập cùng tiếng chó sủa rát tai.

Ánh đuốc bừng sáng rực ngoài ngõ, hắt qua những khe liếp vách đất thành từng vệt đỏ quạch, chập chờn như muốn thiêu đốt gian nhà tranh nghèo. Tiếng người huyên náo, quát tháo râm ran phá tan màn đêm tĩnh mịch của bến sông.

Hoài Sơn giật mình buông đũa, cùng cha mẹ vội vã bước ra bậu cửa nhìn ra ngoài.

Dưới quầng lửa bập bùng soi rọi, một toán gia đinh tay lăm lăm gậy gộc đang rẽ lối cho một thân hình đẫy đà bước tới. Trịnh Bá Hộ khoác áo gấm the màu lục sẫm, râu dê chuốt sáp cong vút, ngón tay cái lấp lánh chiếc nhẫn ngọc bích lớn. Lão chắp một tay sau lưng, gương mặt béo phì nham hiểm lộ rõ vẻ trịch thượng khinh khỉnh. Đứng giữa sân nhà, Trịnh Bá Hộ lạnh lùng giơ chiếc quạt xếp bằng ngà voi chỉ thẳng vào gian nhà tranh, cất giọng ráo hoảnh đòi siết đất ngay trong đêm.

Bạn thích truyện này?

Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!

Hãy là người đầu tiên để lại đánh giá cho tác phẩm này.