Chương 19: Tro Tàn Trên Lửa Đỏ

Nắng chiều đông hanh vàng rải trên con đường ven đê Cẩm Giang. Dòng người xóm Bến Tranh rộn rã bước đi, tiếng nói cười râm ran át cả tiếng sóng vỗ. Hoài Sơn đi sát bên cha mẹ, vạt áo trước ngực ôm chặt tờ văn tự nợ vừa lấy lại từ công đường. Tấm lưng áo vải thô của cha hôm nay thẳng tắp, từng bước chân tập tễnh giẫm chắc nịch xuống nền đất sỏi, rũ sạch vẻ khom khom cam chịu. Về đến nhà, cánh cổng tre khép hờ đón từng cơn gió sông lồng lộng. Mùi khói bếp quyện với hương dưa cải chua ngọt ngoài hiên ôm lấy ba người. Mọi hiểm nguy rình rập suốt tám mươi chín ngày qua bỗng chốc tan biến vào thinh không.

Bước qua bậu cửa, cha Đại Dũng tới góc bàn thờ tổ tiên kê sát vách đất, thắp nén nhang trầm. Làn khói thơm thanh tịnh cuộn tròn bay lên. Người cha nâng tờ văn tự nợ ố vàng bằng cả hai tay, kính cẩn đặt dưới chân bài vị mộc mạc rồi chắp tay lạy ba lạy tạ ơn. Hoài Sơn cùng mẹ quỳ sụp xuống chiếu cói dập đầu. Trong lòng cậu trào dâng niềm xúc động: mảnh đất hương hỏa cha ông gầy dựng bao đời nay đã thực sự được giữ trọn vẹn, không còn kẻ nào có thể cậy quyền cướp đoạt.

Lạy tạ tổ tiên xong, hai cha con cùng bước xuống gian bếp nhỏ. Chiếc bếp lò đất sét đỏ vẫn đượm than hồng từ sáng. Hoài Sơn ngồi trước cửa lò, gắp thêm hai thanh củi sồi khô rồi cầm ống nứa thổi nhẹ. Đốm than bùng lên, ngọn lửa vàng cam l**m quanh thớ củi, reo tí tách ấm sực cả gian nhà.

Người cha mang tờ giấy nợ xơ xác xuống. Tờ giấy mang dấu điểm chỉ đỏ từng suýt đẩy gia đình vào cảnh tan đàn xẻ nghé, nay nằm im trong những ngón tay gầy guộc của cha. Nhìn Hoài Sơn với ánh mắt kiên định, ông chìa mép giấy để con trai cùng cầm lấy. Bốn bàn tay kẹp chặt mảnh giấy oan khiên, đồng lòng đưa thẳng vào miệng lò.

Ngọn lửa đỏ rực lập tức bốc cháy dữ dội. Hoài Sơn nín thở nhìn ngọn lửa nuốt chửng từng dòng chữ khế ước bất công, thiêu rụi dấu điểm chỉ đỏ của người cha vô tội. Chỉ trong chốc lát, tờ giấy nợ ba mươi lượng bạc trắng đã hóa thành tàn tro đen nhánh, rớt xuống đáy lò than hồng.

Mối nguy mất nhà đất hương hỏa hoàn toàn chấm dứt, món nợ cờ bạc tai ương của người chú ruột vĩnh viễn không còn dấu vết ràng buộc gia đình. Nhìn tro tàn vụn vỡ dưới đáy lò, Hoài Sơn cảm thấy tảng đá đè nặng ngực mình suốt hai kiếp người đã tan biến sạch trơn. Sống mũi cậu cay sè, hai giọt nước mắt nóng hổi khẽ lăn dài trên gò má rám nắng.

Đứng bên cạnh, mẹ Tố Lan đưa vạt áo chấm nước mắt, vai run lên vì mừng tủi. Đợi ngọn lửa dịu bớt, bà lặng lẽ bước vào buồng trong, đến bên chiếc hòm gỗ cũ nâng ra chiếc tráp xoan đào.

Bà run run nhấc ra chiếc thoa bạc chạm hình hoa cúc đã ngả màu thời gian—kỷ vật duy nhất ngoại để lại, thứ mà trong những ngày túng quẫn nhất mẹ từng định đem đi cầm cố để cứu căn nhà. Qua bức rèm buồng hé mở, Hoài Sơn thấy mẹ đứng trước gương đồng, từ tốn tháo chiếc trâm tre ra, trân trọng cài chiếc thoa bạc lên búi tóc vấn gọn sau gáy.

Nụ cười rạng rỡ nở trên môi người mẹ hiền, xóa sạch mọi nét âu lo từng hằn sâu nơi khóe mắt bao tháng ngày cơ cực.

“Mẹ...” Hoài Sơn khẽ gọi.

Mẹ Tố Lan bước ra, mỉm cười xoa đầu con trai “Mẹ giữ lại được rồi, Sơn nhi. Nhờ có cha con con, gian bếp nhà mình mới không bị tắt lửa.”

Đúng lúc ấy, ngoài ngõ vang lên tiếng bước chân dồn dập cùng giọng cười hào sảng “Chú Dũng ơi! Mẹ con thằng Sơn đã về tới chưa?”Bác thợ rèn Lý Thiết sải bước qua cổng tre, kéo theo bé Tiểu Nha đang nhảy chân sáo. Phía sau còn có mấy bác phu đò và bà con xóm Bến Tranh ríu rít kéo sang, người xách nải chuối, người cầm bó rau tươi vừa hái. Gian nhà tranh bỗng chốc rộn rã hẳn lên.

Tiểu Nha vừa chạy vào sân đã tròn xoe mắt reo lên “A, thím Lan hôm nay đẹp quá! Chiếc thoa bạc cài trên tóc thím lấp lánh như ánh sao ấy!”

Mẹ Tố Lan ngượng ngùng cười hiền, vội mời bà con ngồi xuống những chiếc ghế đẩu con ngoài hiên, rồi đon đả bưng ra đĩa dưa cải muối mật mía vàng óng cùng bát nước vối ấm nóng. Mọi người tấm tắc khen dưa giòn ngọt thanh tao, ai nấy đều hân hoan chúc mừng gia đình họ Mông đã rửa sạch oan ức trước công đường.

Bác Lý Thiết đặt mạnh bọc vải thô dày cộp lên mặt bàn mộc, tiếng kim loại va chạm vang lên “leng keng” đanh gọn “Chú Dũng, lại đây xem cái này!”

Bác Lý mở lớp vải ra, để lộ bộ dao đục mới toanh gồm mười chiếc, từ đục vũm, đục bạt đến dao trổ hoa. Thân đục rèn bằng thép tốt ánh lên sắc xanh biếc, cán đục chuốt bằng gỗ trắc bóng loáng, lưỡi nào lưỡi nấy sắc ngọt như nước.

“Biết chú giữ trọn được đất và quyết chí theo nghề đũa mun,” bác Lý Thiết cười vang, giọng rền như chuông đồng, “mấy hôm trước tôi thức thâu đêm rèn cho chú bộ này. Đồ mộc của chú Dũng từ nay phải vươn xa khắp các bến sông!”

Cha Đại Dũng sững sờ. Đôi bàn tay chai sạn của người thợ mộc run run chạm vào từng lưỡi đục mát lạnh. Giọt nước mắt của người cha câm lặng trào ra khóe mi. Ông lùi lại nửa bước, đưa hai tay đan chéo trước ngực cúi đầu thật sâu.

Ông làm thủ ngữ chậm rãi: chỉ tay lên trời, chỉ xuống bến sông, rồi áp hai lòng bàn tay vào nhau hướng về phía bác Lý và bà con chòm xóm để tạ ơn.

Khi ngẩng đầu lên, ánh mắt cha Đại Dũng ngời sáng một niềm kiêu hãnh rạng ngời. Đó là niềm tự hào của người thợ mộc chân chính, tật nguyền nhưng chưa từng chịu khuất phục, đã cùng vợ con dùng chính mồ hôi và đôi bàn tay lao động lương thiện giữ vững tổ ấm thiêng liêng.

Xóm giềng râm ran trò chuyện hồi lâu rồi mới lục tục ra về chuẩn bị cho mâm cơm chiều cuối năm. Gian nhà tranh trở lại vẻ thanh bình vốn có.

Hoài Sơn bước ra hiên đứng tựa vào cột nhà. Luồng gió bấc từ triền núi bất chợt thổi ào qua rặng dâm bụt, mang theo hơi lạnh buốt giá của mùa đông. Trên nền trời xám bạc, những bông tuyết đầu mùa trắng muốt bắt đầu bay lất phất, lượn lờ chao nghiêng rồi đậu khẽ khàng trên mặt nước dòng Cẩm Giang.

Tuyết đã rơi bên bờ Cẩm Giang lạnh buốt, nhưng sau lưng Hoài Sơn, gian bếp nhỏ vẫn rực hồng ánh lửa củi sồi, ngào ngạt hương dưa cải và đượm nồng hơi ấm gia đình. Đêm trừ tịch ba mươi Tết sum vầy đã thực sự gõ cửa gian nhà tranh.

Bạn thích truyện này?

Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!

Hãy là người đầu tiên để lại đánh giá cho tác phẩm này.