Chương 4: Hộp Sắt Tây Và đôi Dép Cũ
Màn hình máy vi tính nhấp nháy luồng sáng xanh nhờ nhờ, hắt lên gương mặt hốc hác của Kiều Tuấn Kiệt những mảng tối tăm. Trong góc tiệm net xập xệ ở đầu khu phố Lộc Du, tiếng quạt gió kêu rè rè rệu rã không sao át nổi tiếng gió mưa gào thét dữ dội suốt từ nửa đêm. Bên ngoài hiên tôn, gió từ mé sông Vàm Cỏ Đông vẫn thốc lên từng cơn ràn rạt, quất rào rạt vào những rặng gáo, kèm theo tiếng sấm thi thoảng lại rạch ngang bầu trời rạng sáng.
Kiệt ngồi co ro trên chiếc ghế nhựa sứt góc. Trò chơi điện tử trước mặt đã dừng lại từ lâu, nhân vật trong game bị tiêu diệt nằm bất động giữa màn hình. Bàn tay cậu buông thõng trên bàn phím cáu bẩn. Vết rách nơi khóe môi cùng vết bầm tím trên gò má sau trận ẩu đả ở trường chiều qua vẫn còn nhức buốt, nhưng cơn đau thể xác ấy chẳng thấm tháp gì so với nỗi cồn cào đang giằng xé trong lồng ngực.
Nửa đêm qua, lúc đạp cửa lao ra khỏi nhà, cậu chỉ muốn trốn chạy khỏi cái nghèo nàn, khỏi cái mùi khói trấu ngột ngạt và sự cố chấp đến tàn nhẫn của ông nội. Cậu căm hờn ông đã từ chối ba trăm triệu của người ta, vứt bỏ cơ hội cứu lấy tương lai của cậu. Nhưng khi ngồi trơ trọi giữa tiệm net sặc mùi khói thuốc lá rẻ tiền, nghe từng trận cuồng phong quăng quật mái tôn, ruột gan Kiệt bỗng thắt lại.
Giàn bánh ngoài sân!
Hơn ba mươi liếp bánh tráng kép tráng từ gạo nàng Thơm pha muối hột phơi suốt cả ngày qua, chỉ chờ hứng sương đêm nay là sớm mai đem giao mối. Bánh tráng phơi sương Trảng Bàng kỵ nhất nước mưa dầm. Mà chân nội thì thoái hóa khớp gối nặng, đi đứng còn tập tễnh... Làm sao một mình ông lão sáu mươi tám tuổi có thể chống chọi với cơn dông bão kinh hoàng đến nhường này?
Hình ảnh bóng lưng gầy guộc của nội cùng tiếng gọi với bất lực khi cậu quay lưng bỏ chạy cứ xoáy sâu vào tâm trí Kiệt. Bất chấp nỗi tự ái đang vùng vằng, sự lo sợ mơ hồ đã bóp nghẹt mọi giận hờn. Khi bóng tối ngoài đường bắt đầu loãng dần, nhường chỗ cho sắc xám đục của buổi tàn canh, Kiệt dứt khoát đứng bật dậy. Cậu kéo sụp chiếc mũ áo khoác lấm lem, cắm đầu cắm cổ lao ra màn mưa bụi còn sót lại, chạy ngược về con ngõ quen thuộc dẫn vào lò bánh Vĩnh Niên.
Cánh cổng tre xiêu vẹo mở toang hoác. Vừa đặt chân đến đầu ngõ, cảnh tượng đổ nát đập vào mắt khiến tim Kiệt như rơi tõm xuống đáy vực.
Khoảng sân đất nện rộng thênh thang mọi ngày vốn ngăn nắp những giàn phên tre, nay đã hóa thành một bãi chiến trường hoang tàn, ngập ngụa bùn lầy. Hơn ba mươi liếp tre dài bị cuồng phong xé toạc, gãy gập nằm ngổn ngang giữa những cọc sào xiêu vẹo. Những phên bánh tráng trắng nõn ngấm nước mưa trương phềnh, nát vụn thành từng mảng bọt trắng đục nhờ nhờ, trôi lềnh bềnh theo dòng nước bùn đỏ ngầu tuôn ra mương nước. Cả mẻ bánh công phu – chỗ dựa mưu sinh duy nhất của hai ông cháu trong những ngày túng quẫn này – đã hoàn toàn bị dông bão cướp sạch.
Nhưng điều làm Kiệt lạnh toát sống lưng không phải là đống bánh nát. Dưới bậc thềm hiên nhà ba gian, một vệt bùn lầy kéo lê ngoằn ngoèo từ giữa sân vào tận cửa liếp, lẫn trong đó là những vệt màu nâu sẫm của máu tươi đã bị nước mưa hòa loãng.
“Nội ơi!”
Kiệt hét lên một tiếng thất thanh, xô mạnh cánh cửa gỗ khép hờ. Gian nhà ba gian tối om, lạnh ngắt như hầm băng, sặc lên mùi ẩm mốc của mưa gió và mùi đất nện nồng nặc.
Ánh sáng tờ mờ của buổi sớm hắt qua khe liếp rọi thẳng lên chiếc chõng tre sát vách. Ông Niên đang nằm co quắp trên manh chiếu rách. Toàn thân ông ướt sũng, bùn đất bám lem nhem từ ống quần lên tận ngực áo bà ba sẫm màu. Bàn chân trần của ông vẫn còn dính bê bết bùn non, và khớp gối bên phải sưng phù to tướng, rách một mảng da sâu hoắm vẫn đang rỉ ra những giọt máu bầm. Có lẽ sau khi ngã gục ngoài thềm mưa, ông đã gắng gượng dùng chút tàn lực cào cấu mặt đất để bò lên chõng rồi mới lịm đi.
Kiệt hốt hoảng lao tới mép chõng, run rẩy đặt bàn tay nhỏ thó lên trán ông “Nội! Nội có sao không, nội?”
Bàn tay cậu giật thót lại như chạm phải thanh sắt nung. Trán ông Niên nóng hầm hập, cơn sốt dữ dội đang bốc lên ngùn ngụt thiêu đốt thân xác gầy guộc. Hai gò má đồi mồi sạm gió sương của ông ửng đỏ một cách dị thường, đôi môi khô khốc nứt nẻ bật máu. Toàn thân ông lão co giật từng cơn theo nhịp th* d*c nặng nhọc. Trong cơn mê sảng đứt quãng, hai hàm răng ông va vào nhau lập cập, khóe môi méo xệch mấp máy những tiếng thều thào nghẹn ngào “Thuận... đừng đi... Ba xin con... đừng bỏ nhà đi mà Thuận...”
Tiếng gọi xé lòng bật ra từ đáy sâu tiềm thức của người cha già khiến Kiệt chết lặng. Nước mắt cậu trào ra, nóng hổi trên đôi má bầm tím. Người đàn ông cả đời nghiêm nghị, kiệm lời, chưa từng một lần than vãn trước nghịch cảnh, lúc này đây lại nằm co ro, bất lực và cô độc đến tột cùng trên chiếc chõng tre ọp ẹp.
“Con đây... con về rồi nè nội ơi!”
Kiệt luống cuống lau nước mắt, vội vã chạy xộc xuống chái bếp. Cậu kéo gầu múc một thau nước mưa trong lu lớn, nhúng chiếc khăn rằn cũ kỹ vò vội rồi chạy lên vắt ráo, run rẩy đắp lên vầng trán nóng rực của nội. Cơn sốt cao như thế này nếu không hạ kịp thì nguy mất. Phải tìm dầu gió và thuốc cảm.
Nhớ mang máng nội hay cất mấy thứ bông băng, thuốc men lặt vặt trong hộc tủ gỗ gõ mục chân kê ở góc chái bếp, Kiệt lại tất tả chạy ngược xuống. Chái bếp mọi khi ấm sực mùi khói trấu và vỏ đậu phộng nướng bánh, giờ đây lạnh tanh, ảm đạm.
Kiệt quỳ thụp xuống nền đất, thò tay bới tung chiếc hộc tủ ọp ẹp đầy bụi bặm. Mấy lọ cao sao vàng cũ rích, cuộn băng gạc đã ngả màu ố vàng, vài bao diêm ẩm xì keo lại... Cậu sốt ruột thò sâu tay vào tận đáy tủ tối om để lục lọi. Đầu ngón tay Kiệt bỗng quờ trúng một v*t c*ng, bằng kim loại gồ ghề. Cậu nắm lấy, dùng sức kéo mạnh ra ngoài.Vì quá cuống cuồng, chiếc hộp trơn tuột khỏi những ngón tay gầy guộc.
“Xoảng!”
Một âm thanh khô khốc vang lên giữa gian bếp vắng lặng. Chiếc hộp bánh quy bằng sắt tây hoen gỉ, lớp sơn ngoài đã tróc lở loang lổ, rơi cắm góc xuống nền đất nện. Cú va đập khiến chiếc nắp sắt bật tung ra, hất tung những thứ giấu kín bên trong vương vãi khắp mặt đất.
Kiệt giật mình thót bụng, vội vàng cúi xuống toan nhặt gom lại vì sợ làm hỏng đồ của nội. Nhưng khi đôi mắt vừa chạm vào những vật phẩm rơi ra, toàn thân cậu bé mười ba tuổi bỗng đông cứng lại như hóa đá.
Không có tiền bạc, cũng chẳng có chút tài sản giá trị nào được cất giấu.
Nằm trên cùng là một xấp giấy gấp tư đã ngả màu ố vàng, mép giấy quăn queo, sờn rách vì được mở ra gấp vào quá nhiều lần. Từng con số đen đúa, lạnh lùng đập thẳng vào mắt Kiệt: Ba trăm triệu đồng. Đó là những tờ giấy biên nhận nợ có dấu vân tay đỏ chót cùng chữ ký run rẩy của ba nó – Kiều Vĩnh Thuận, kèm theo những dòng cam kết trả nợ xiết nhà của đám người cho vay nặng lãi.
Nhưng thứ khiến hơi thở của Kiệt nghẹn ứ nơi cổ họng lại nằm ngay dưới xấp giấy nợ oan nghiệt kia.
Đó là một đôi dép mủ tí hon màu nâu đất, chỉ nhỏ bằng nửa bàn tay của Kiệt bây giờ. Đôi dép đã mủn đi theo năm tháng, quai dép mỏng manh như chiếc lá khô – đôi dép mủ đầu đời mà ông Niên đã chắt bóp từng đồng mua cho ba Thuận hơn bốn mươi năm về trước khi đứa con trai duy nhất chập chững biết đi.
Và nằm sát bên cạnh là một đôi dép mủ khác màu xanh dương, phần gót đã mòn vẹt lộ cả lớp cao su mỏng tang. Chỗ quai dép bị đứt từng được nội khéo léo dùi lỗ, luồn một sợi dây kẽm nhỏ để buộc lại cho khỏi tuột. Đôi dép ấy, Kiệt nhận ra ngay tắp lự. Đó là đôi dép cậu đã mang suốt những năm tháng lên ba, cái dạo mẹ bỏ đi biền biệt, rồi ba Thuận dắt díu cậu về lại mái nhà ngói rêu phong này nương tựa bóng nội.
Ở giữa hai đôi dép cũ kỹ là một tờ giấy lịch xé đã ố vàng giòn rụm. Trên mặt giấy, ông Niên dùng bút mực tàu nắn nót ghi từng nét chân phương, cẩn trọng “Thằng Thuận, sinh giờ Thìn, ngày rằm tháng Giêng năm Nhâm Tuất.”
“Thằng Kiệt, sinh giờ Mùi, mùng mười tháng Bảy năm Quý Tỵ.”
Chỉ vỏn vẹn hai dòng chữ ngắn ngủi, mộc mạc, nhưng chứa đựng trọn vẹn cả cuộc đời, máu mủ và ruột rà của người thợ cả già nua.
Hóa ra, chiếc hộp sắt tây mà nội nâng niu giấu kỹ tận đáy tủ suốt bao năm qua không phải là vàng bạc gia truyền, mà là nơi cất giữ linh hồn của gia đình này. Nội cất giữ món nợ ba trăm triệu của ba nó chung một chỗ với những kỷ vật thiêng liêng nhất đời mình. Người ta có thể xem ba Thuận là kẻ tội đồ làm ăn thua lỗ rồi hèn nhát trốn chui trốn lủi, nhưng đối với ông Niên, đứa con ấy vẫn là khúc ruột, là giọt máu ông nâng niu từ ngày xỏ chân vào đôi dép mủ tí hon. Món nợ khổng lồ có thể cướp đi mái nhà ba gian, tước đoạt lò bánh tổ nghiệp, nhưng ông thà còng lưng gánh vác, thà dầm mưa dãi gió chịu khổ nhục chứ nhất quyết không chịu bán đứt tên tuổi lò bánh, chỉ vì muốn giữ cho con một chốn quay về.
Và nội cũng chưa từng một giây phút nào thôi thương xót đứa cháu nội côi cút, bướng bỉnh và ngỗ nghịch.
Mọi lời oán trách, giận hờn, ấm ức trong lòng Kiệt phút chốc sụp đổ hoàn toàn. Cậu nhớ lại những lần mình cãi lời nhem nhẻm, nhớ lại ánh mắt khó chịu khi nhìn đôi bàn tay ám khói trấu của nội, nhớ cả những lời cay độc tối qua khi cậu gào lên rằng lò bánh rách nát này đang chôn vùi cuộc đời cậu. Hóa ra, chính cái lò bánh thủ công nhọc nhằn này, chính tấm lưng thẳng và hai bàn tay chai sần kia đã che chắn, nuôi nấng cậu khôn lớn suốt mười ba năm qua giữa giông bão cuộc đời.
Kiệt run rẩy với tay nhặt lấy vỉ thuốc hạ sốt nằm lăn lóc cạnh mép hộp, rồi cẩn thận nhấc đôi dép mủ màu xanh mòn vẹt lên. Đôi dép nhỏ thó nằm lọt thỏm trong lòng bàn tay đầy vết trầy xước của cậu bé đang tuổi trổ giò.
Lảo đảo bước từng bước chân nặng trĩu về lại chiếc chõng tre, Kiệt nhẹ nhàng đỡ đầu nội dậy, run run bón từng muỗng nước ấm cùng viên thuốc vào khóe môi khô khốc của ông. Ông Niên nuốt khó nhọc, hơi thở vẫn phập phồng đứt quãng, nhưng bàn tay gầy trơ xương của ông khẽ cựa quậy trên mép chiếu rách.
Đó là bàn tay thô ráp chai sần vì lửa trấu, ngón tay vẹo vọ vì những vết nan tre cứa đứt qua năm tháng, mu bàn tay đầy những nốt đồi mồi và nứt nẻ những vệt xám xịt của tàn tro lẫn bùn đất sau trận dông đêm.
Ôm đôi dép cũ mòn vẹt vào ngực, Kiệt quỳ sụp bên chõng tre nhìn bàn tay nứt nẻ đầy tàn tro của nội, nước mắt hối hận tuôn trào làm ướt đẫm gấu áo phong phanh.
Bạn thích truyện này?
Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!
