Chương 11: Đòn Hiểm Phong Tỏa Chất đốt
Làn khói đen khét lẹt từ ống xả xe hơi của Huỳnh Long tan dần trong gió sớm, nhưng mùi xăng nồng nặc vẫn quẩn quanh cổng chợ Trảng Bàng, bóp nghẹt lồng ngực già nua của ông Niên. Khớp gối phải vừa rách da mấy hôm trước lại nhói buốt từng hồi như có kim châm, khiến đôi chân ông chực khuỵu xuống. Nhìn khuôn mặt tái mét cùng ánh mắt hoang mang tột độ của thằng Kiệt, ông Niên bặm chặt môi, nuốt ngược nỗi kinh hoàng đang cuộn lên vào tận đáy dạ.
Ông hít một hơi thật sâu, cố nén cái run rẩy nơi đầu ngón tay rồi đưa bàn tay thô ráp, chai sần vỗ nhè nhẹ lên bả vai gầy gò của đứa cháu nội mười ba tuổi. Một nụ cười gượng gạo nở trên gương mặt sạm đen đồi mồi “Hổng có sao đâu con. Người ta làm ăn lớn lối quen thói, buông lời hù dọa suông vậy thôi. Xứ Trảng Bàng mình lúa thơm bạt ngàn, đậu phộng bãi bồi quanh năm, trấu với vỏ đậu thiếu gì mà sợ. Chú Long làm sao bịt hết được đường sống của người nghèo. Đi, theo nội về.”
Miệng nói cứng cỏi là thế, nhưng bụng dạ ông Niên cồn cào như có muối xát. Huỳnh Long là dân thương trường lọc lõi, đã nhắm vào ai thì chẳng bao giờ buông lời thừa thãi. Cả đời làm nghề, ông hiểu rõ lửa trấu và than vỏ đậu phộng chính là linh hồn của lò bánh phơi sương. Bột gạo nàng Thơm có ngon, giọt sương đêm có ngọt lành đến mấy mà thiếu đi chất đốt giữ nhiệt đượm, bánh tráng cũng chỉ là thứ bột chua hư hỏng.
Không thể về nhà ngồi chờ chết, ông Niên dắt Kiệt quẹo ngay sang con đường đất đỏ hướng về phía mé rạch Bảo. Đôi sọt tre rỗng lắc lư trên vai thằng nhỏ, còn ông Niên chống khúc gậy tre bước thấp bước cao, mặc kệ từng cơn đau nhức buốt óc nơi khớp gối đang hành hạ. Ông phải tận mắt kiểm chứng mối ngờ vực đang đè nặng trong lòng.
Điểm đến đầu tiên là nhà máy xay lúa Chín Tỏ ở khu phố Lộc Du, mối quen từng cung cấp trấu sạch cho lò bánh Vĩnh Niên suốt mấy mươi năm qua. Nhưng khi hai ông cháu vừa bước vào khoảng sân đầy bụi cám, ông Chín Tỏ đã vội vã từ trong chòi chạy ra, hai tay xua lia lịa, nét mặt chan chứa vẻ ái ngại “Anh Ba ơi, tui thiệt lòng có lỗi với anh... Sáng sớm tinh mơ bữa nay, người của công ty Toàn Phát kéo tới tận xưởng, vung một cọc tiền mặt dày cộm đặt mua đứt toàn bộ trấu lúa mùa của tui trong ba tháng tới. Họ bao trọn gói từ khâu gom bao tới xe tải chở đi, giá lại cao gấp rưỡi. Tui lỡ ký giấy nhận tiền cọc rồi, giờ mà xé giao kèo thì đền trắng mắt!”
Từng lời phân trần như gáo nước lạnh buốt dội thẳng vào đỉnh đầu ông Niên. Ông đứng chết lặng giữa làn bụi trấu bay mù mịt, tai lùng bùng không nghe rõ tiếng thằng Kiệt đang giận dữ gặng hỏi bên cạnh.
Không nản lòng, ông Niên lại cắn răng kéo cháu sang khu phố Gia Lộc, gõ cửa xưởng bóc tách vỏ đậu phộng Hai Phước mé bến sông. Rồi lần lượt qua vựa trấu Bảy Tám, xưởng vỏ đậu Năm Râu... Đi đến đâu, câu trả lời nhận được cũng chỉ là những cái lắc đầu ngao ngán, xót xa.
“Người của Huỳnh Long rải tiền khắp làng trên xóm dưới rồi anh Ba ơi. Họ gom sạch trơn, hổng chừa lại lấy một bao. Họ còn bắt tụi tui ký cam kết, nếu lén bán dù chỉ một thúng cho lò thủ công thì phạt vạ tiền trăm triệu... Tụi tui thương anh em chòm xóm lắm, nhưng phận làm ăn nhỏ lẻ, đụng vô công ty lớn sao nổi!”
Lời giãi bày cay đắng của người thợ già Bảy Tám như nhát búa nện thẳng vào màng nhĩ ông Niên. Một đòn hiểm độc, thâm sâu và tàn nhẫn khôn cùng. Huỳnh Long không cần đập phá, không cần dùng vũ lực, gã chỉ cần khóa chặt nguồn chất đốt là đủ sức bóp nghẹt lò bánh Vĩnh Niên trong cảnh tàn canh.
Bóng chiều chập choạng buông xuống những rặng tre già ven rạch Bảo. Hoàng hôn đỏ quạch như máu rải lên con đường đất vắng tanh, nơi hai ông cháu lếch thếch dắt nhau trở về căn nhà ba gian ngói âm dương rêu phong.
Kiệt quẩy đôi sọt tre rỗng, đôi vai nhỏ thó trĩu xuống, hai bàn tay siết chặt đòn gánh đến trắng bệch các khớp ngón, uất ức không thốt nên lời. Còn ông Niên, từng bước chân tập tễnh nặng như đeo đá tảng. Khớp gối phải sưng múp, căng mọng và tấy đỏ bên dưới ống quần bà ba bạc phếch.Vừa về tới hiên, ông Niên buông gậy, lảo đảo đi thẳng xuống chái bếp đất sét. Gian bếp từng nồng đượm khói ấm giờ đây lạnh lẽo lạ thường. Ông run rẩy cúi rạp người, bới tung từng góc kẹt, lục lọi từng bao tải rách nằm lăn lóc bên chân tường.
Thế nhưng, sau bao công sức gom vét, trước mắt ông chỉ là nửa bao trấu cũ mốc meo lẫn đất cát và một nắm vỏ đậu phộng lép kẹp nằm trơ trọi dưới đáy hộc gỗ. Nửa bao trấu ẩm mốc này nhen lên chỉ tổ sinh khói cay xè làm đen muội mặt bánh, còn nắm vỏ đậu lép chẳng đủ giữ than hồng cho nổi một vỉ bánh nướng chứ đừng nói đến chuyện nướng bánh tráng kép phồng da cóc.
Tối sập xuống thật nhanh, nuốt trọn gian chái bếp vào một màu đen đặc quánh. Không có lửa nhen, gian bếp quạnh quẽ đến rợn người.
Ông Niên ngồi bệt xuống thềm gạch bên mé lò đất, hai bàn tay run lẩy bẩy ôm chặt lấy đầu gối đang buốt nhức từng cơn. Trong bóng tối chập choạng, ánh mắt mờ đục của ông hướng lên gian nhà trên. Nơi ấy, trên chiếc bàn gỗ dầu cũ kỹ, chiếc hộp bánh quy sắt tây vẫn nằm im lìm, mang theo tờ giấy nợ ba trăm triệu đồng cùng hai đôi dép mủ thuở nhỏ của thằng Thuận và thằng Kiệt.
Thời hạn ba mươi ngày nay chỉ còn lại hai mươi chín ngày ngắn ngủi. Mới ban sáng, khi cầm xấp tiền bán sạch hai thiên bánh phơi sương ở sạp bà Hai Đờn, ngọn lửa hy vọng trong lòng ông bùng lên mãnh liệt biết bao nhiêu. Vậy mà giờ đây, lò bánh tổ nghiệp đứng trước nguy cơ phải tắt lửa vĩnh viễn.
Lò tắt lửa đồng nghĩa với việc không còn bánh nướng, không còn bánh đón sương, không còn cách nào kiếm đủ ba trăm triệu đồng để giữ lại mái nhà. Nếu mất nhà, mai này thằng Thuận ăn năn quay về, nó sẽ biết nương náu vào đâu giữa cuộc đời giông bão?
Nghĩ đến đó, ngực ông Niên thắt lại từng cơn nghẹn ứ. Hai giọt nước mắt nóng hổi ứa ra từ khóe mắt chằng chịt vết chân chim, chầm chậm lăn dài trên đôi gò má sạm đen sương gió.
“Nội ơi...” Tiếng thằng Kiệt khẽ gọi, run rẩy trong bóng tối. Cậu bé ngồi thụp xuống bên cạnh, dùng vạt áo cũ còn lấm bụi vụng về lau giọt nước mắt trên má nội.
Ông Niên cắn chặt môi, đưa bàn tay run rẩy xoa đầu đứa cháu nội, cổ họng đặc quánh không thốt nên lời. Giữa gian chái bếp lạnh ngắt, đốm tàn than cuối cùng trong lòng lò đất chao nghiêng rồi lụi tàn, chỉ còn lại làn tro xám xịt.
Đúng lúc ấy, từ ngoài con ngõ dẫn vào cổng rào bất ngờ vang lên tiếng máy nổ xình xịch cùng tiếng bánh xe rít mạnh phanh gấp trên lớp đá sỏi “Kééét!”
Tiếp theo đó là tiếng đập cửa liếp dồn dập, gấp gáp xé toang màn đêm tĩnh mịch, kèm theo tiếng thở hổn hển quen thuộc của bà Hai Đờn vọng vào “Anh Ba ơi! Thằng Kiệt ơi! Mở cửa lẹ lên, tui Hai Đờn nè!”
Bạn thích truyện này?
Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!
