Chương 3: Mầm Dong Luồn Qua Khe đạn

Tiếng đạn ghém chát chúa vừa dứt, khói súng kẹt lại giữa vách đá còn nồng nặc mùi diêm sinh, cụ Mâu Thế Trực đã nhanh như một con sóc rừng già, quàng tay giật mạnh vai áo thằng Tỏ lôi thụt lùi vào lòng hốc đá tai mèo rậm rịt rêu phong. Cụ giơ ngón tay gầy guộc lên môi, mắt nghiêm lại ra hiệu cho thằng cháu nín thở, rồi ấn lưng nó nép chặt xuống lớp lá mục ẩm ướt.

Chỉ cách chỗ hai ông cháu nấp chừng mươi bước chân, bóng ba gã đàn ông vạm vỡ mang súng kíp và rìu cán dài hùng hổ rẽ cành trèo lên. Tên đi đầu mặt xám ngoét, vệt sẹo dài ngang má giật giật, họng súng bốc khói hãy còn chĩa lom lom về phía trước “Mẹ kiếp, tao vừa thấy bóng người lấp ló dưới này! Thằng nào dám mò lên dòm ngó đống gỗ của anh em dưới bến?”

Tên thứ hai gạt phăng một cành nứa gãy, đảo mắt nhìn quanh thung lũng “Chắc mang rậm hay khỉ chuyền cành thôi anh cả. Vách Khau Vang dốc đứng thế này, đến dân quân xã còn ngại tuần tra, ma nào dám mò lên giữa trưa hạn?”

Gã cầm súng khạc một bãi nước bọt đỏ quạch bã trầu xuống tảng đá cạnh bụi rậm, hậm hực “Cứ cẩn thận không thừa. Đốn nốt hai cây nghiến sụn đầu dốc rồi kéo bè xuôi sông Đà trước khi nước cạn hẳn. Động mối này là rũ tù cả lũ đấy!”

Cụ Trực nín thở, đôi mắt tinh anh chăm chú nhìn từng bước chân toán thợ gỗ lậu qua kẽ lá rậm. Lồng ngực cụ phập phồng nhẹ bẫng, giữ chặt lấy thân gậy trúc đực không để phát ra một tiếng va quệt nhỏ. Đợi khi tiếng chân huỳnh huỵch và tiếng quát tháo của bọn chúng khuất dần về phía mỏm rừng nghiến phía trên, cụ mới khẽ buông vai Tỏ, ghé sát tai cháu thì thầm “Bọn nó đông súng nhiều rìu, lại liều mạng vì món hời gỗ lậu. Rừng này tao thuộc từng hốc đá từ thời trai trẻ đánh giặc. Mày cúi thấp người, mang chặt hai cái gùi trên vai, chân bước theo đúng gót gậy của tao, cấm được làm dập một mầm giống.”

Nói rồi, cụ Trực khom lưng, mượn bóng những tán vông rừng rậm rạp và triền vách đá dốc ngược, dẫn Tỏ luồn lách theo con đường mòn cheo leo vốn chỉ dành cho hoẵng rừng đi kiếm nước. Đôi chân chín mươi tư tuổi của cụ đặt trên từng phiến đá tai mèo sắc nhọn vững vàng đến lạ lùng. Chỗ nào đá trơn rêu mủn, mũi gậy trúc lại điểm xuống trước làm trụ, gạt lối cho thằng cháu theo sau. Thằng Tỏ vạm vỡ khoác hai chiếc gùi nứa nặng trịch đầy củ già và mầm giống tía, đôi bàn chân bám chặt từng bậc đá, mồ hôi ướt đầm trán nhưng không dám thở mạnh một tiếng. Hai ông cháu như hai cái bóng chàm lướt êm ru qua khe nứa, vượt qua hẻm đá dựng đứng rồi bỏ xa tiếng rìu đốn gỗ lại phía sau lưng chừng núi.

Mãi đến khi bóng chiều đổ sẫm trên sườn núi, vách đá tai mèo nhường chỗ cho những rặng tre mai thoai thoải nơi chân bản Nà Pùng, cụ Trực mới dừng chân dưới gốc vối cổ thụ.

Gió thung lũng thổi rười rượi xua đi cái nóng hầm hập của buổi chiều hạn hán. Thằng Tỏ đặt hai chiếc gùi nứa đẫy đà xuống bãi cỏ, ngồi bệt xuống đất th* d*c từng hồi, mồ hôi hột túa ra ướt đẫm bắp tay ngăm đen. Cụ Trực nhìn thằng cháu, thấy hai gùi dong rừng vẫn nguyên vẹn, từng chùm mầm non tươi rói không hề sứt mẻ sau chặng đường hiểm nghèo luồn qua họng súng. Đôi mắt già nua ánh lên niềm an ủi. Thằng Tỏ ngước nhìn tấm lưng còng nhưng dẻo dai của ông nội, trong mắt lộ rõ nỗi kinh ngạc và kính phục khôn cùng “Ông nội… nếu chiều nay không có ông kéo cháu lại rồi dẫn đường tắt, chắc cháu bị đạn ghém bắn nát người, hoặc là đụng mặt lũ người hung tợn ấy rồi…”

Cụ Trực mỉm cười hiền từ, đưa tay xoa nhẹ bờ vai rắn chắc của cháu:“Rừng sâu có mắt, đá núi có lòng. Người biết kính rừng thì rừng che chở, kẻ cầm súng bạt cây thì sớm muộn cũng chuốc lấy vạ vào thân thôi con ạ. Gùi mầm giống về nhà sàn đã, tối nay còn nhiều việc phải lo.”

Trời nhá nhem tối hẳn khi hai ông cháu bước chân lên cầu thang gỗ bản Nà Pùng. Ba mươi sáu nóc nhà sàn chìm trong cảnh ảm đạm của vụ đói, tiếng dế giun kêu ra rả buồn bã bên bờ rào nứa. Cụ Trực giục Tỏ cất kỹ hai gùi mầm giống ở góc sàn râm mát, dặn lấy lá chuối tươi đậy lên giữ ẩm.

Đêm về khuya, gió từ thung lũng thổi qua khe vách nứa mát rượi, nhưng không khí trong gian nhà sàn vẫn trĩu nặng ngột ngạt âu lo. Bên bếp lửa gian giữa bập bùng ánh than đỏ, cụ Trực ngồi têm miếng trầu, đôi mắt thâm trầm quan sát thằng Tỏ đang ngồi bó gối ở góc sàn đối diện. Trong ánh lửa chập chờn, thằng bé ngồi thần thờ, bàn tay to bè thô ráp cứ mân mê bọc lá chuối khô gói tiền cọc thuốc lá lậu giấu dưới kẽ ván ban trưa. Vẻ mặt nó dằn vặt, cau có, chốc chốc lại thở dài sườn sượt.

Cụ Trực không lớn tiếng nạt nộ. Cụ dùng que cời gạt lớp tro than hồng rực, gắp ra hai củ dong già vừa vùi nướng từ chập tối. Lớp vỏ đỏ sần sùi bị lửa thui xém nứt toác ra, để lộ phần ruột trắng ngà thơm lừng mùi thảo mộc quyện với vị bùi ngậy của đất rừng, ngào ngạt lan tỏa khắp gian nhà sàn ấm cúng.

Cụ bẻ đôi củ dong nóng hổi, khói bốc nghi ngút, chìa một nửa sang cho cháu “Ăn đi con. Thử xem cái củ rừng ruột đá nó ngọt hay đắng.”

Thằng Tỏ giật mình ngước lên, bối rối cất vội gói tiền vào túi áo chàm, rụt rè đón lấy củ dong nướng. Nó cắn một miếng nhỏ. Vị bột dẻo quánh, ngọt đậm đà nơi đầu lưỡi làm dịu đi cái bụng đang cồn cào vì mấy bát cháo sắn loãng ban trưa.

Cụ Trực nhai chậm rãi, ánh mắt ấm áp nhìn vào đốm lửa than “Củ dong cắm rễ vào vách đá, chắt từng giọt nước khe trong vắt mà lớn lên, nuốt vào bụng vừa chắc dạ vừa mát ruột, đêm nằm ngủ không phải giật mình thon thót. Còn cái thứ tiền cọc buôn lậu thuốc lá kia…” Cụ ngừng lại một nhịp, giọng trầm xuống đầy sức nặng, “Nó là miếng mồi câu mạng người đấy con ạ. Cầm mấy chục đồng bạc bất lương ấy ra bến đò sông Đà, nay trốn thuế mai chạy công an, lỡ sẩy chân một cái thì cả đời rũ tù, để lại tiếng xấu cho cả dòng họ Mâu, cả bản Nà Pùng này. Mày bảo, đồng tiền ấy nuốt vào cổ họng có nghẹn đắng không?”

Từng lời gan ruột của người ông chín mươi tư tuổi như gõ thẳng vào tâm can thằng Tỏ. Nó nhìn củ dong rừng trắng nõn thơm phức trên tay, lại nhớ đến họng súng săn kíp hung hãn cùng tiếng quát chém giết của bọn lâm tặc ban chiều trên đỉnh Khau Vang. Nỗi sợ hãi và sự xấu hổ bỗng trào dâng, khiến sống mũi nó cay sè. Hai giọt nước mắt lăn dài trên gò má ngăm đen cháy nắng của chàng trai hai mươi mốt tuổi, rơi lộp bộp xuống mặt sàn nứa.

Thằng Tỏ vội móc bọc lá chuối khô ra, run run đặt xuống bên cạnh bếp lửa trước mặt ông nội, nghẹn ngào thưa “Cháu… cháu biết lỗi rồi ông ơi! Tại cháu thấy cả nhà đói quá, nương ngô cháy khô khốc nên cháu quẫn trí, toan đi liều một chuyến. Chiều nay suýt chết trên núi, lại thấy củ dong của ông, cháu mới biết mình dại dột… Sáng mai gà gáy canh năm, cháu sẽ chạy một mạch ra bến đò sông Đà trả tận tay đống tiền cọc này cho người ta. Cháu thề ở lại bản, theo ông đem giống dong này xuống bờ suối trồng cho bằng được!”

Cụ Trực nhìn cháu gật đầu, chòm râu bạc khẽ rung rinh trong niềm xúc động thanh thản. Cụ biết lòng thằng Tỏ đã neo lại được với mảnh đất này.

Cụ đứng dậy, chống gậy trúc bước ra mé hiên nhà sàn nhìn về phía suối Vó Boong cạn trơ đáy. Đêm miền sơn cước tĩnh mịch đến nao lòng. Hai gùi mầm dong đỏ thắm đang nằm yên chờ sớm mai được xới đất cắm rễ bên bờ suối. Nhưng giữa lúc cụ vừa thở phào nhẹ nhõm, từ phía con đường mòn ngoài ngõ bỗng có ánh đèn bão lập lòe quét qua bờ rào nứa, kèm theo bóng người bước đi ngập ngừng đầy vẻ nghi hoặc đang tiến dần về phía chân cầu thang.

Bạn thích truyện này?

Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!

Hãy là người đầu tiên để lại đánh giá cho tác phẩm này.