Chương 2: Vách đá Khau Vang Rỉ Máu
Gói tiền bọc lá chuối khô nằm im lìm trong lớp đất mùn nhá nhem tối dưới gầm sàn như một cục than hồng chực bốc cháy. Cụ Mâu Thế Trực nén tiếng thở dài, không vội nhặt lên. Thằng Tỏ còn đang sục sôi uất ức, nếu cụ bới tung món tiền cọc phi pháp ấy ra lúc này, thằng cháu nội chỉ càng thêm cùng đường mà đâm đầu vào chỗ chết. Đêm hôm đó trôi qua nặng nề như một khối đá tai mèo đè nặng lên ngực cụ già chín mươi tư tuổi. Cụ thức trắng, lắng nghe từng tiếng trở mình cồn cào vì đói của thằng cháu ở gian bên.
Khi màn sương sớm bảng lảng còn phủ kín thung lũng Nà Pùng, cụ Trực khẽ cựa mình ngồi dậy. Gió lạnh luồn qua kẽ liếp khiến khớp gối cụ nhức mỏi, nhưng đôi mắt già nua vẫn sáng quắc vẻ cương nghị. Cụ bước lại gian giữa, cúi người nhóm lên một đống lửa nhỏ bằng mấy thanh củi gộc khô khốc. Ngọn lửa bập bùng xua tan hơi lạnh ẩm ướt của cữ sớm.
Cụ với lấy con dao quắm đã mòn vẹt chuôi gỗ giắt bên hông, nhấc thêm chiếc gùi nứa đan dày đặt cạnh vách rồi cất giọng trầm đục gọi sang gian bên “Tỏ! Dậy đi con.”
Thằng Tỏ giật mình tỉnh giấc, mắt kèm nhèm đỏ hoe, mặt mày vẫn hằn rõ nét bơ phờ sau một đêm trằn trọc. Nó ngồi bật dậy, nhìn thấy chiếc gùi trên tay ông nội thì ngờ vực “Sớm thế này ông gọi cháu đi đâu? Dưới nương ngô cháy rụi cả rồi, ra đấy chỉ tổ hít bụi than.”
“Hôm nay không ra nương.” Cụ Trực chống gậy trúc đực, giọng đanh lại nhưng không giấu nổi vẻ ân cần. “Khoác gùi lên, theo tao ngược dốc Khau Vang.”
Thằng Tỏ trố mắt, ngực nó thắt lại “Lên Khau Vang làm gì hở ông? Vách đá dựng đứng ấy đến dê rừng còn trượt chân, trên đó ngoài gai góc với đá nhọn thì có thứ gì ăn được? Cháu… cữ sáng nay cháu còn có việc dưới bến sông…”
“Việc dưới bến đò sông Đà hay việc ở cái bọc lá chuối khô dưới gầm sàn?” Cụ Trực quắc mắt nhìn thẳng vào mặt thằng cháu.
Thằng Tỏ sững sờ, mặt cắt không còn hạt máu. Nó lắp bắp, bờ môi nứt nẻ run lên bần bật “Ông… ông…”
“Còn muốn giữ cái mạng để đền ơn tổ tiên thì vác gùi theo tao!” Cụ Trực dằn mạnh đầu gậy trúc xuống sàn ván, dứt khoát xoay người bước xuống cầu thang gỗ.
Cụ Trực vừa bước chân ra khỏi ngõ, bóng dáng chìm vào làn sương sớm mịt mù thì nghe tiếng bước chân huỳnh huỵch đuổi theo sau; thằng Tỏ đã quơ vội chiếc gùi nứa, cắm đầu chạy bám sát lưng ông.
Đường lên Khau Vang dốc ngược như chiếc thang dựng đứng giữa trời. Càng lên cao, lối mòn càng hẹp dần, chỉ còn những gờ đá vôi sắc lọn như lưỡi dao cạo chực cứa rách đế dép lốp. Gió núi quất rát mặt. Thằng Tỏ ban đầu vừa đi vừa càu nhàu trong họng “Ông già rồi, leo trèo thế này lỡ sẩy chân một cái thì khổ. Muốn kiếm củ mài củ sắn thì để cháu đi, hơi đâu trèo lên tận chóp núi đá cằn cỗi…”
Thế nhưng, lời cằn nhằn của nó dần nghẹn lại nơi cuống họng. Người ông chín mươi tư tuổi của nó cứ lẳng lặng tiến bước. Mỗi bước chân cụ cắm mũi gậy trúc đực xuống kẽ đá đều chắc nịch, ngón chân bám chặt vào từng mô rêu trơn tuột. Đôi bàn tay gân guốc thô ráp thoăn thoắt gạt phăng những cành gai mây chắn lối. Thằng Tỏ vốn khỏe như trâu mộng mà leo được nửa đường đã th* d*c từng cơn, mồ hôi ướt đẫm lưng áo vá, trong khi cụ Trực chỉ khẽ nhấp một ngụm nước trong bầu nứa rồi lại vững vàng bấm gậy leo tiếp. Sự bền bỉ lạ thường của ông nội khiến thằng cháu trai vừa kinh ngạc vừa phải thu lại tính khí xốc nổi, cẩn thận bước sát phía sau để che chắn mỗi khi gặp triền dốc đứng.
Vượt qua cổng đá hẹp quanh năm mây mù bao phủ, mở ra trước mắt hai ông cháu là một thung lũng lòng chảo kín gió nằm lọt thỏm giữa các vách đá tai mèo dựng đứng. Khác hẳn cảnh tượng nương rẫy Nà Pùng xơ xác, khô cháy vì hạn hán phía dưới chân núi, nơi đây không khí mát rượi, hơi ẩm bốc lên ngai ngái mùi lá mục.
Cụ Trực dừng bước trên một mỏm đá phủ rêu phong, chỉ mũi gậy trúc về phía vạt cây rậm rạp mọc chen chúc trong các khe nứt đá vôi:“Nhìn cho kỹ đi, thằng Tỏ. Mầm sống của mày, của cả bản Nà Pùng nằm ở chỗ kia đấy.”
Thằng Tỏ tròn mắt nhìn theo hướng gậy chỉ. Trước mắt nó là một vạt cây thân tía cao ngang ngực người, phiến lá thon dài xanh mướt như ngọc bích, bất chấp cái nắng hạn khốc liệt đã thiêu rụi cả vùng thung lũng suốt mấy tháng qua. Từng giọt sương mai đọng trên kẽ lá long lanh, rỏ xuống lớp mùn đen nhánh bên dưới.
“Cây… cây dong rừng?” Thằng Tỏ ngập ngừng bước tới, lấy tay sờ vào thân cây ánh tím chắc nịch. “Nhưng thứ này mọc hoang đầy hốc đá, xưa nay dân bản chỉ lấy lá gói bánh chưng, củ nó toàn xơ cứng như gỗ, ai mà nuốt nổi?”
“Đấy là vì chúng mày chưa biết hạt ngọc ẩn trong ruột đá.” Cụ Trực ngồi thụp xuống một gờ đá, đưa con dao quắm cho cháu. “Xắn nhẹ lớp mùn rêu quanh gốc khóm cây già nhất kia lên xem.”
Thằng Tỏ nghe lời, khom lưng xới lớp lá mục sang một bên rồi cẩn thận cắm mũi dao xuống nền đất mùn ẩm ướt rỉ ra từ kẽ đá. Lưỡi dao chạm phải một v*t c*ng chắc. Nó dùng hai bàn tay to bè bới đất, để lộ ra những chùm củ dong riềng đỏ thẫm, to bằng bắp tay, vỏ ngoài sần sùi bám chặt vào đá tai mèo. Mùi nhựa củ ngai ngái, nồng đậm hương vị của đất rừng xông thẳng vào cánh mũi.
Cụ Trực cầm lấy một củ dong to nhất, dùng sống dao khẽ gõ gõ. Tiếng kêu đanh chắc vang lên giòn giã. Cụ lấy mũi dao gọt một lát mỏng, để lộ phần ruột trắng ngà ứa ra lớp nhựa dính quánh lại như keo.
“Thấy chưa con?” Đôi mắt cụ Trực lấp lánh sự tinh anh. “Dong trắng dưới đồng bằng nhiều nước xốp ruột, gặp hạn là thối gốc. Nhưng giống dong riềng đỏ này cắm rễ vào ruột đá vôi, chắt lọc từng giọt nước khe trong vắt mà tích bột. Củ càng già trong kẽ đá thì bột càng dẻo quánh, đậm đà. Năm đói kém thời đánh Pháp, bố tao đã dùng thứ củ này mài ra bột, gạn nước khe tráng bánh cứu sống cả trung đội bộ đội hành quân qua đây.”
Cụ đưa ngón tay gân guốc trỏ vào những chùm củ nhánh nhỏ hơn còn bám sát gốc mầm “Bới củ cũng phải có cái tâm giữ rừng. Chỉ bẻ lấy củ mẹ già tích bột, để lại củ nhánh và mầm non cắm trả về kẽ mùn. Rừng cho ta miếng ăn lúc ngặt nghèo thì ta phải chừa lại đường sống cho rừng. Nhớ lấy lời tao, tuyệt đối không được nhổ tiệt gốc.”
Thằng Tỏ lặng người đi. Nó nhìn lát củ trắng ngà trên tay ông nội, lại nhìn vạt cây xanh mướt kiên cường vươn mình giữa sỏi đá cằn cỗi. Nhìn vẻ mặt giãn ra của thằng cháu, cụ Trực biết nỗi uất nghẹn và ý nghĩ liều mạng dạt ra bến sông buôn lậu thuốc lá của nó đã tan biến như sương gặp nắng sớm; đôi mắt thằng Tỏ ánh lên niềm hy vọng trước con đường sống chân chính cho cả gia đình.
Hai ông cháu cặm cụi làm việc suốt buổi sáng. Thằng Tỏ vung dao thoăn thoắt, đôi bàn tay vạm vỡ cẩn thận tách từng khóm mầm giống và bới những củ dong già chắc nịch xếp ngay ngắn vào gùi. Chẳng mấy chốc, hai chiếc gùi nứa đã đầy ắp những củ dong tía đẫm đất mùn tươi rói. Cụ Trực cẩn thận lấy lá rụng phủ kín lại những hốc đất vừa bới để giữ ẩm cho mầm non tái sinh.
Khi hai ông cháu vừa đứng thẳng lưng định tra quai gùi vào vai, không gian tĩnh mịch của thung lũng bỗng chốc ngưng bặt. Tiếng chim hót lảnh lót vụt tắt, gió rừng bỗng dưng lặng ngắt một cách lạ thường.
Từ vách núi đá phía rừng nghiến đầu nguồn cách đó chừng nửa dặm, tiếng “chanh chách” của lưỡi rìu sắc lạnh bổ vào thân gỗ cổ thụ dội lại từng hồi gấp gáp, xen lẫn tiếng cành lá gãy răng rắc và tiếng bước chân người rầm rập đạp trên đá sỏi.
Cụ Trực biến sắc, bàn tay gầy guộc nắm chặt lấy thân gậy trúc đực. Lông mày bạc của cụ nhíu chặt lại, tim đập thình thịch “Lâm tặc! Chúng nó đang hạ trộm nghiến nghìn năm!”
Thằng Tỏ giật nảy mình, vội đặt chiếc gùi xuống đất, toan nhặt con dao quắm bước lên phía trước che cho ông nội. Nhưng chưa kịp để hai ông cháu cất bước, từ vách đá cheo leo ngay phía trên đầu bỗng vang lên một tiếng quát tháo man rợ, tiếp theo đó là một tiếng nổ xé toạc bầu không khí “Đoàng!”
Tiếng súng săn kíp rống lên chát chúa, chớp lửa lóe sáng rạch ngang vách đá tai mèo. Đạn ghém cày tung tóe vào vách đá vôi làm đá dăm và rêu khô bắn rào rào xuống mặt đất, mùi thuốc súng khét lẹt xộc thẳng vào mũi.
“Thằng nào lảng vảng dưới hốc đá? Bắn chết mẹ nó đi!” Tiếng hô hoán đằng đằng sát khí của toán thợ săn gỗ lậu vang dội như sấm sét, kèm theo tiếng bước chân hung hãn đang lao thẳng về phía hốc đá nơi hai ông cháu đang đứng.
Bạn thích truyện này?
Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!
