Chương 3: Hơi Thở Rừng Quế
Bóng lưng Lò Văn Khảm cùng đốm lửa tàn của đoàn người vừa chìm hẳn vào màn sương xám ngoét, cụ Triệu Vĩnh Nghiệp mới chầm chậm hạ cây gậy trúc xuống. Hơi lạnh buốt giá sau canh ba thấm qua lớp áo chàm mỏng, nhưng lòng cụ còn buốt hơn trước cái nhìn tráo trở của tên đội trưởng sản xuất. Mẹ con Chở vẫn ngồi bệt dưới thềm đất, tiếng nấc nghẹn ngào của người mẹ trẻ chốc chốc lại bật lên, hòa cùng tiếng thở dồn dập, sợ sệt của bé Tủa nép chặt bên hông.
Cụ Triệu đưa bàn tay gân guốc xoa nhẹ lên chỏm tóc bù xù của đứa trẻ, rồi quay sang dặn Bằng đưa hai mẹ con vào nhà cài then cẩn thận. Mãi đến khi tiếng gà gáy le te rộ lên từ các sườn đồi, xua bớt lớp sương muối đục ngầu, cụ mới quay trở lại căn nhà trình tường nép dưới chân Đồi Quế Thượng.
Trên tay cụ là chiếc âu đất đựng đầy ngô bung còn bốc khói ngùn ngụt, rắc mấy hạt muối hột trắng tinh.
— Cháu Chở, mở cửa cho lão nào.
Cánh cửa gỗ nghiến khẽ kẽo kẹt mở ra một khe hẹp. Thấy gương mặt quen thuộc của cụ Triệu, Chở vội vàng kéo then, đôi mắt trũng sâu vì một đêm thức trắng đỏ hoe. Bé Tủa thấy bát ngô nóng thì lí nhí chào một tiếng rồi ngập ngừng đón lấy, đôi bàn tay nhỏ xíu run rẩy bốc từng hạt ngô dẻo bỏ vào miệng.
Cụ Triệu không ngồi vào ghế mà chậm rãi bước quanh bốn góc tường trình đất. Những vết đá ném đêm qua để lại nhiều mảng vỡ nham nhở, đất nện vàng sẫm rụng lả tả xuống chân móng. Cụ miết nhẹ đầu ngón tay chai sạn lên từng vết lõm sâu hoắm, ánh mắt trầm ngâm — Bọn người đêm qua ra tay ác quá. Đất này chồng cháu nhọc công nện suốt ba tháng ròng, tường dày hơn hai gang tay mà chúng còn ném đến mức long cả lớp áo ngoài. May mà chưa đổ vách.
Nhắc đến người chồng quá cố, Chở ôm mặt, bờ vai gầy rung lên bần bật — Cụ ơi, mẹ con cháu đội ơn cụ đã đem cả danh dự ra che chở… Nhưng cháu sợ lắm. Chồng cháu mất chưa đầy hai mùa rẫy, làng bản đã coi mẹ con cháu như cái gai trong mắt. Người ta bảo nhà cháu rước tà ma về phá nát bản Nặm Sương…
Cụ Triệu ngồi xuống chiếc ghế mây con, giọng trầm ấm — Lão sống đến bảy mươi bảy tuổi đầu, chưa từng thấy con ma nào biết sợ gậy trúc hay đợi đúng ngày hai mươi hai mới gõ đá. Người ta mượn bóng ma để dọa người sống đấy thôi. Cứ bình tâm, có lão và chú Bằng ở đây, không ai dám đuổi mẹ con cháu ra khỏi mái nhà này đâu.
Chở quệt vội giọt nước mắt lăn dài trên gò má hốc hác. Cô nhìn ra khoảng sân vắng teo, rồi hạ thấp giọng như sợ luồng gió lọt qua khe cửa nghe thấy — Cụ Nghiệp… có chuyện này từ ngày nhà cháu còn sống, cháu chưa dám kể với ai ngoài xã. Mùa rẫy năm kia, trước khi ngã bệnh nằm liệt giường, nhà cháu đi tuần rừng về có bảo dạo này Đồi Quế Thượng lạ lắm. Đêm nào sương mù dày đặc là y như rằng có tiếng cành cây gãy răng rắc. Nhà cháu soi đèn trèo lên vạt đồi sau nhà thì thấy mấy gốc quế to lâu năm của hợp tác xã bị ai đó dùng dao bén rọc từng mảng vỏ lớn, dấu vết còn mới nguyên nhựa ứa ra thơm nức.
Đôi lông mày bạc cước của cụ Triệu khẽ nhíu lại:— Chồng cháu có nhìn thấy bóng người không?
— Dạ không… — Chở lắc đầu — Lúc nhà cháu đến gần thì kẻ kia đã lẩn mất vào rừng vầu. Nhà cháu định báo lên ban chỉ huy Đội, nhưng hôm sau bỗng dưng đổ bệnh sốt rét ác tính rồi qua đời. Cháu phận đàn bà góa bụa, sợ mang tiếng đặt điều nên giấu kín trong lòng. Liệu có phải… hồn ma quỷ rừng về phạt vì chuyện quế bị đẽo không cụ?
— Rừng thiêng có thần giữ cây, nhưng kẻ cầm dao rọc vỏ quế giữa đêm mù sương chỉ có thể là người bằng xương bằng thịt. — Cụ Triệu đứng phắt dậy, cây gậy trúc gõ một tiếng chắc nịch xuống nền đất — Cháu cứ ở yên trong nhà trông bé Tủa. Để lão ra sau đồi xem sao.
Cụ Triệu chống gậy men theo lối mòn nhỏ sau gian bếp, bước ra vạt đồi quế giáp ranh. Rừng quế của hợp tác xã vào cữ thu xao xác lá vàng, hương tinh dầu cay nồng phảng phất trong từng cơn gió sớm. Vạt đồi này nằm thoai thoải, lưng tựa thẳng vào chân vách đá vôi Thau Chua dựng đứng như bức tường thành khổng lồ chọc thẳng lên trời cao.
Cụ dừng chân bên bờ rào dâm bụt ngăn cách đất nhà Chở với đồi quế. Ánh mắt từng trải của người thợ săn lão thành quét một lượt địa thế xung quanh. Từ bản Nặm Sương muốn lên vách Thau Chua, con đường chính bắt buộc phải đi ngang qua trạm gác dân quân tự vệ đóng ở đầu dốc Đội 1. Nơi ấy ngày đêm đều có người trực gác biên thùy, người lạ hay kẻ mang vác cồng kềnh khó lòng lọt qua. Thế nhưng, vạt đồi sau nhà Chở lại là một ngách hiểm: lối mòn xuyên qua rừng quế hun hút, men theo các kẽ đá tai mèo khuất tầm mắt, là cửa ngõ duy nhất dẫn thẳng lên lưng chừng vách Thau Chua mà chẳng hề chạm mặt trạm gác.
Một sự trùng hợp quá đỗi vừa vặn. Nếu mẹ con Chở bị xua đuổi vào rừng sâu, căn nhà này bỏ hoang, cả vạt đồi quế sẽ trở thành chốn không người qua lại. Khi ấy, con đường mòn dẫn lên vách đá và biên giới sẽ hoàn toàn nằm trong tay kẻ nào muốn tự do lui tới.
Cụ Triệu khẽ nghiêng đầu sang bên phải. Cái tai trái điếc đặc im lìm trong tĩnh lặng, nhưng tai phải của cụ lại bắt trọn từng dao động mong manh của không gian. Gió chướng ban ngày không gầm rít dữ dội như lúc nửa đêm, nhưng luồng khí lạnh từ phía hẻm vực vẫn cuồn cuộn thổi thốc qua các tán quế rậm rạp.
Cụ nheo mắt dõi theo hướng lá quế dập dờn. Luồng gió chướng không tỏa đều khắp sườn núi. Khi chạm vào vạt đồi thoải, địa hình lòng chảo tự nhiên đã gom tất cả các ngọn gió lại thành một dòng khí nén mạnh mẽ, hút thẳng về phía khe nứt hình phễu ngăm đen trên vách Thau Chua. Tiếng gió luồn qua khe đá rít lên từng hồi u u nghe tựa tiếng th* d*c nặng nề của một con thú khổng lồ ẩn nấp trong vòm tối.
Gió là của trời đất, nhưng đường đi của gió lại dẫn thẳng vào tim của âm mưu.
Cụ Triệu lững thững bước men theo rãnh nước chảy tràn dọc bờ rào đồi quế. Nước mưa từ trên vách đá rỉ xuống tạo thành dòng bùn nhão nhoẹt, cuốn theo lá mục và rêu phong. Bỗng nhiên, bước chân cụ khựng lại.
Dưới đáy rãnh cạn, lấp xấp dưới lớp lá quế mục nát, một mẩu gỗ nhỏ trồi lên thu hút ánh nhìn quắc thước của cụ già. Cụ cúi người, bàn tay gân guốc thò xuống nhặt mẩu gỗ lên, giũ sạch lớp bùn xám bám quanh.
Đó là một mảnh nêm gỗ dẻ dài chừng nửa gang tay. Hai đầu nêm được gọt đẽo vuông vức, một mặt vát chéo một góc sắc ngọt và được mài nhẵn thín bằng lưỡi bào thép sắc bén. Gỗ dẻ rừng vốn đanh quánh, chịu nước và chịu lực nén cực tốt, xưa nay cánh thợ mộc chỉ dùng để chêm mộng xà nhà hoặc nêm chặt trục cối xay lúa. Người dân Nặm Sương lên rừng kiếm củi nhóm bếp chẳng ai dại gì chặt gỗ dẻ, lại càng không ai rảnh rỗi ngồi vót nhẵn một mảnh nêm tinh xảo đến dường này rồi vứt bừa bãi nơi bìa rừng.
Cụ Triệu miết ngón tay cái lên vết vát phẳng lỳ còn vương mùi nhựa mới, đôi môi khô ráp mím chặt thành một đường thẳng tắp. Tiếng lách cách đêm trăng khuyết dường như lại vang lên bên tai phải, đanh gọn và lạnh lùng như chính mảnh gỗ trên tay.
Bạn thích truyện này?
Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!
