Chương 19: Lưới Giăng Vách Đá
Bàn tay gầy guộc của cụ Triệu Vĩnh Nghiệp như gọng kìm siết cứng lấy bả vai Bằng, ghì chặt chàng trai trẻ nép sâu vào hốc đá tai mèo ẩm ướt. Hai chiến sĩ dân quân bên cạnh lập tức nín thở, thu gọn đầu gối, ngón trỏ đặt hờ nơi cò súng trường. Mùi rêu phong ẩm lạnh quyện với mùi đá vôi nồng nặc bao trùm lấy bốn người trong bóng tối dày đặc.
Tiếng sỏi vụn lạo xạo mỗi lúc một dồn dập ngay mép vực ngoài. Giữa tiếng phong linh tre gai đang gõ lách cách từng nhịp ấm áp xé luồng gió chướng, hai bóng đen lặc lè cúi rạp người, chui tọt qua vòm đá hẹp của hang hàm ếch.
— Chết tiệt thật! Đêm nay gió chướng rít như xé vải thế kia mà sao đá không gõ lấy một tiếng?
Một giọng the thé, quen thuộc đến ghê rợn cất lên kèm theo tiếng th* d*c phì phò. Ánh đèn pin mờ căm chập chờn quét ngang lòng hang, rọi thẳng vào vách đá gồ ghề. Cụ Triệu nheo mắt phải, thu trọn gương mặt nhễ nhại mồ hôi, mắt một mí ti hí đang đảo quanh láo liên của Đội trưởng Lò Văn Khảm. Bộ quần áo đại cán sờn vai của gã dính bê bết bùn đất và lá mục rách tơi tả.
Đi sát sau lưng Khảm là một gã cằn nhằn, lưng cong vẹo dưới sức nặng bao tải, đôi mắt ti hí liếc ngang liếc dọc. Trên vai hai tên trĩu nặng hai chiếc bao tải gai công nghiệp ba tao căng tròn ứ hự, mỗi bước đi lại tỏa ra mùi thơm ngào ngạt, cay nồng đặc trưng của vỏ quế tươi vừa bóc. Dưới ánh sáng vàng vọt của ngọn đèn pin, cụ Triệu nhìn rõ mồn một dải mực chàm đỏ quét vội trên thân bao tải gai: ký hiệu phân kho của Đội 2.
Thào Seo Lử quẳng phịch chiếc bao tải xuống nền sỏi, lưng tựa vào tảng đá thở hồng hộc: — Hay là… hay là con ma rừng giận rồi bác Khảm ơi? Chiều nay con Chở còn gào khóc bên mộ chồng nó, khéo vong linh thằng Sùng về quấy phá bẫy đá rồi! Nghe tiếng chuông tre đâu đây như tiếng mõ gọi hồn, gai ốc tôi nổi hết cả lên rồi này!
— Im cái mồm thối lại! — Khảm gắt gắt gỏng, giật phắt chiếc xà beng sắt dài chưa đầy sải tay kẹp bên sườn, hua hua trong không khí. — Ma với quỷ cái gì! Đá không gõ là do trận mưa rào đêm nọ làm bùn trôi vào kẹt mất nêm gỗ dẻ trét sáp ong, hoặc luồng gió bị tạt góc thôi. Dưới bản, bà con đang dỏng tai chờ tiếng ma gõ để sáng mai kéo nhau lên dỡ nhà đuổi mẹ con con Chở đi. Không có tiếng gõ, lão Nghiệp với thằng Bằng lại vin cớ cãi bay cãi biến thì công toi cả chuyến quế này à?
Khảm quẹt ngang mu bàn tay dính đầy nhựa quế thẫm màu lên trán, mắt vằn lên những tia máu hung hãn: — Sang bên kia biên giới, ba mươi cân vỏ quế vụ trước đã đổi được cả đống hàng ngoại với tiền mặt. Hai bao tươi này lột sát gốc quế cổ thụ trên Đồi Quế Thượng, dầu quế đặc quánh, cân lên không dưới sáu mươi cân đâu. Nuốt trôi mớ này, tao với mày tha hồ ăn trắng mặc trơn. Mau, soi đèn vào ngách hẹp cho tao!
Lò Văn Khảm cầm lăm lăm chiếc xà beng sắt, sấn sổ bước về phía cuống họng phễu đá, nơi hai phiến đá vôi mỏng dẹt đang nằm im phăng phắc. Gã không hề hay biết rằng luồng gió chướng hung hãn bên ngoài đã bị gióng cái năm gang tay cùng dàn phong linh tre gai đón đầu bẻ gãy, triệt tiêu toàn bộ lực nén cơ học.
Khảm khom lưng, dí mũi xà beng thép sáng loáng vào kẽ hở giữa phiến đá vôi phải và nêm gỗ dẻ quét sáp ong rừng. Gã nghiến răng, gồng cơ bắp toan nạy mạnh thanh gỗ để chỉnh lại góc lắc rung đón gió.
Ngay khoảnh khắc đầu nhọn xà beng vừa cấn vào thớ đá kêu “keng” một tiếng đanh gọn, cụ Triệu Vĩnh Nghiệp liền bật dậy khỏi bóng tối.
Lồng ngực già nua phập phồng căng tràn khí lực của người thợ săn từng tung hoành khắp rừng già Hoàng Liên. Cụ ngửa cổ, phát ra một tiếng hú trầm đục xé toạc màn sương đêm: — Hú… u… ớ…!
Tiếng hú thợ săn rền vang, chồn qua từng vòm hang đá vôi rỗng ruột, dội ngược lại thành muôn tiếng vọng liên tiếp.
— Ai đấy?! — Lò Văn Khảm giật bắn người, buột miệng thét lên kinh hãi, chiếc xà beng suýt tuột khỏi kẽ tay dính nhựa quế.
Chưa kịp định thần, từ vòm đá tối tăm phía sau, cán bộ Hoàng Văn Bằng cùng hai chiến sĩ dân quân tự vệ xã đã như tên bắn lao vụt ra.— Đứng im! Dân quân tự vệ đây! — Tiếng hô đanh thép của người chiến sĩ trẻ vang lên chấn động lòng hang.
Một dân quân quăng phắt sợi dây thừng dâu da bện ba tao quấn trúng bả vai Thào Seo Lử. Người lính còn lại áp sát bằng báng súng gỗ nghiến, quật mạnh vào khoeo chân khiến gã tòng phạm ngã nhào, đập mặt xuống lớp sỏi đá vôi vụn, miệng ú ớ không kịp kêu cứu.
Thấy đồng bọn bị tóm gọn trong chớp mắt, Lò Văn Khảm hoảng loạn tột cùng. Thói hung hãn của kẻ cùng đường bốc lên ngùn ngụt, mắt gã đỏ sọc, hai tay siết chặt thanh xà beng sắt vung ngang một đường chí mạng về phía Bằng đang lao tới: — Chúng mày vu oan! Tao — Khảm này có đủ chứng cứ kiện chúng mày lên xã lên huyện…!
Cú vung sắt mang theo tiếng gió rít xé toạc bóng đêm, nhắm thẳng vào đầu vị cán bộ trẻ. Bằng theo đà lao tới chưa kịp hãm chân để né tránh.
Đúng tích tắc sinh tử ấy, cụ Triệu Vĩnh Nghiệp đã dạt bước sang bên mỏm đá nhô. Thân hình cụ thoăn thoắt, vững chãi tựa gốc bương ngàn năm. Cụ vung chiếc gậy trúc bịt đồng, nhằm cổ tay phải Khảm giáng xuống — gọn và chắc như nhát bổ cật tre.
“Chát!”
Đầu gậy trúc giáng trúng khớp xương cổ tay Khảm. Tiếng xương va chạm khô khốc vang lên kèm theo tiếng rú thảm thiết vì đau đớn của tên Đội trưởng sản xuất. Ngón tay gã lập tức co giật, buông lỏng. Chiếc xà beng sắt nặng trịch rơi tuột khỏi tay, va đập loảng xoảng xuống mặt sàn đá vôi rồi nằm chỏng trơ cạnh kẽ nứt.
Không để đối phương kịp hoàn hồn, Bằng lao tới túm chặt lấy cổ áo đại cán của Khảm, giật mạnh về sau, một tay bẻ ngược cánh tay gã ép chặt vào lưng. Chiến sĩ dân quân lập tức ập tới, đè gối ghì chặt lưng gã xuống mặt đá lạnh ngắt, dùng dây thừng trói gập hai khuỷu tay gã lại như trói lợn rừng.
— Thả tao ra! Chúng mày vu oan cho cán bộ… Tao là Đội trưởng Đội 2… Chúng mày không có quyền… — Khảm giãy giụa điên cuồng, miệng sùi bọt mép gầm rống trong tuyệt vọng.
— Đội trưởng Đội 2 mà nửa đêm mang xà beng đi sửa bẫy ma rừng, gùi sáu mươi cân vỏ quế trộm của hợp tác xã à? — Bằng gằn từng tiếng rành rọt, giật phắt chiếc túi vải bạt bên hông Khảm ném xuống trước mặt gã.
Từ trong túi bạt, chiếc kìm bấm bằng thép, hộp diêm Thống Nhất cùng một mẩu bao tải gai rách có mép cắt kéo trùng khớp hoàn toàn với mẩu bao tải nhặt được trong kẽ nêm gỗ dẻ lăn lông lốc ra sàn đá. Tang chứng, vật chứng rành rành nằm phơi bày dưới ánh đèn bão vừa được châm sáng rực.
Cụ Triệu Vĩnh Nghiệp chầm chậm chống gậy trúc bước tới, cúi nhìn kẻ chủ mưu đang thở hồng hộc dưới đất. Đôi mắt cụ thâm trầm, đượm nét xót xa lẫn nghiêm nghị của bậc cao niên: — Chú Khảm à, lòng dạ chú tham lam quá đỗi. Đồi quế là mồ hôi nước mắt của cả bản Nặm Sương, là bát cơm manh áo của bao nhiêu con người thời bao cấp đói khổ này. Chú bày trò ma quỷ, chèn đá gõ đêm trăng khuyết để dọa nạt, bức hại mẹ con con Chở góa bụa, dồn họ vào chỗ chết để chú mặc sức khoét đục của công mang đi buôn lậu. Chú tưởng khe đá này kín gió thì giấu được tai mắt đất trời sao?
Lò Văn Khảm run bần bật, mặt áp sát vào lớp bụi đá vôi lạnh toát. Gã chật vật ngước cổ lên.
Ngay trên đầu gã, nơi cửa phễu đón gió của vách Thau Chua, dàn phong linh bảy gióng tre gai khổng lồ của cụ Triệu đang chao nghiêng đón gió. Từng gióng tre gai đanh quánh ngâm bùn ao ba mùa rét vát miệng hình cánh nhạn vẫn đang bền bỉ chia cắt, triệt tiêu luồng gió chướng hung hãn ngoài vực sâu. Con lắc gỗ nghiến chạm nhẹ vào thành ống tre, ngân vang những tiếng “cang… tính… cách… tang…” trong trẻo, trầm ấm và khoan dung lạ lùng.
Nhìn dàn chuông tre sừng sững bẻ gãy âm mưu ma quái của mình, rồi nhìn sang hai bao tải vỏ quế tươi in vết mực chàm đỏ nằm chềnh ềnh bên chiếc xà beng sắt, mặt Lò Văn Khảm cắt không còn một giọt máu, xám ngoét như tro tàn đáy bếp.
Bạn thích truyện này?
Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!
