Chương 12: Tiếng Thì Thầm Bên Bếp Lửa
Ánh mắt lạnh lẽo sau rặng mận vừa lướt qua, sống lưng Hoàng Văn Bằng đã giật thót. Không đợi cụ Triệu kịp lên tiếng, anh buông vội thanh tre vụn trong tay, phóng vụt qua khoảng sân đất, lao thẳng về phía bờ rào dâm bụt.
— Ai ngoài đó? Đứng lại!
Bằng quát lớn, giật bung dải cúc áo sơ mi vướng víu rồi nhoài người lách qua kẽ hở giữa hàng rào gai. Đất ẩm dưới chân nhão nhoét, trơn trượt sau cơn mưa chiều. Nhưng đáp lại tiếng gọi của anh chỉ có tiếng cành lá quất vào nhau xao xác. Vườn mận sau bản chìm trong sương chạng vạng mờ mịt, cành nhánh khẳng khiu đan cài như những cánh tay ma trơ khấc. Bóng kẻ rình mò đã thoăn thoắt lủi sâu vào lối mòn dẫn lên triền đồi, mất hút sau những thân cây rậm rạp.
Bằng th* d*c, cúi người soi tìm vết tích. Dưới gốc mận già, lớp cỏ dại bị giẫm bẹp dúm. Ngay cạnh chạc cây còn vương lại một đốm đỏ le lói trên nền đất ướt: một tàn đóm thuốc lào cuốn bằng lá chuối khô vừa bị dụi vội, bốc lên mùi khét lẹt, ngai ngái nồng nặc rất đặc trưng của thứ thuốc lào Tiên Lãng hạng nặng mà thầy mo Vàng Seo Phử luôn nhét khư khư trong ruột tượng.
Bằng nhặt tàn đóm lên ngửi thử, đôi mày chau lại. Lão mo Phử vừa đứng đây rình trộm từng đường cưa của cụ Triệu. Con rối của Khảm đã bắt đầu sốt ruột.
Quay trở lại xưởng nứa, Bằng thấy cụ Triệu vẫn thản nhiên ngồi trên mép phản gỗ, bàn tay gầy guộc chầm chậm lau lưỡi cưa sắt bằng mảnh giẻ khô.
— Chạy mất rồi hở chú Bằng? — Cụ Triệu ngước mắt, giọng trầm tĩnh như mặt nước giếng khơi.
— Hắn lẩn nhanh quá, cụ ạ. Nhưng rơi lại tàn thuốc lào khét lẹt của thầy mo Phử. — Bằng bước tới, cẩn thận đặt mẩu lá chuối cháy dở lên góc phản, giọng không giấu nổi âu lo: — Chúng nó đã mò tận vào vườn nhà để nhòm ngó. Cháu sợ đêm hôm thanh vắng, kẻ xấu rắp tâm phóng hỏa hay chặt phá số tre gai này thì công sức ba mùa rét của cụ đổ xuống sông xuống bể, không kịp ngày hai mươi hai.
Cụ Triệu khẽ gật đầu, đưa mắt nhìn bảy lóng tre gai vừa vớt dưới ao lên còn ươm màu bùn thẫm — Lòng dạ chúng nó hẹp hòi thì mắt mũi mới lấm lét như chuột đồng ban ngày. Chú giúp lão một tay, khiêng hết đống tre này vào lán xưởng, chèn then gài cẩn thận. Lão già này tuy điếc một tai, nhưng đứa nào bén mảng bước chân qua bậc cửa thì đừng hòng qua mắt lão.
Hai người cùng nhau khiêng từng gióng tre nặng trịch xếp ngay ngắn vào gian lán nứa sát chân cầu thang nhà sàn, che đậy kỹ bằng mấy tấm cót đan dày.
Trời tối hẳn, trăng thượng tuần non nớt như sợi chỉ bạc treo lơ lửng trên vòm thông, bị mây xám che khuất từng mảng lớn. Nhớ lời cụ dặn mang chút lương thực bồi dưỡng cho hai mẹ con góa phụ, Bằng múc một âu cháo ngô nấu với đỗ xanh còn nghi ngút khói, khoác thêm chiếc áo ấm rồi rảo bước sang căn nhà trình tường nép dưới chân đồi quế.
Bản làng về đêm im ắng đến ngột ngạt. Đi qua mấy nếp nhà sàn, Bằng loáng thoáng nghe thấy những tiếng xì xào to nhỏ sau khe liếp. Dân bản vẫn sợ hãi tiếng gõ đêm trăng khuyết, nỗi hoang mang dồn nén khiến những lời gièm pha độc địa càng lan nhanh như nấm độc sau mưa.
Đến trước cổng rào nhà Chở, Bằng thấy cửa ngõ khép hờ, khe vách đất hắt ra ánh sáng leo lét của ngọn đèn dầu hỏa. Bên trong, tiếng khung cửi lách cách vang lên ngập ngừng, đứt quãng.
— Chị Chở ơi, tôi Bằng đây! — Anh khẽ gõ lên cánh cửa gỗ dẻ.
Tiếng thoi dệt lập tức ngưng bặt. Phải mất một lúc lâu, then cài mới lục cục mở ra. Mùa Thị Chở hé cửa nhìn ra, đôi mắt thâm quầng sâu hoắm vì nhiều đêm thức trắng, nét mặt hoảng hốt chỉ dịu lại đôi chút khi nhận ra dáng người cao ráo của người cán bộ văn hóa xã.
— Cán bộ Bằng… Mời chú vào nhà.
Bằng bước qua bậu cửa đất nện. Căn nhà trình tường trống trải, góc bếp chỉ còn trơ mấy thanh củi gắp dở đang bốc khói mỏng. Chở vội vã kéo chiếc ghế mây con cho anh ngồi, hai bàn tay chàm run rẩy xoa vào vạt áo vá.
— Cụ Triệu bảo tôi mang âu cháo ngô sang cho cháu Tủa ăn nóng, — Bằng đặt âu cháo lên mặt chõng tre, ái ngại nhìn người góa phụ trẻ. — Sao muộn thế này chị vẫn chưa nghỉ tay dệt vải?
Khóe mắt Chở đỏ hoe, chực trào nước mắt:— Cháu… cháu lo quá chú Bằng ơi. Chiều nay mấy người bên Đội Hai đi làm nương về, đứng ngoài hàng rào nói bóng nói gió. Họ bảo ông Khảm với thầy mo Phử nói nếu trước rằm tháng Chín mà mẹ con cháu không chịu dọn đi, ma rừng sẽ quở phạt cho cả bản mất mùa, lợn gà lăn ra chết toi. Có người còn dọa sẽ dỡ cả mái ngói âm dương của nhà cháu ném xuống vực…
Chở nghẹn ngào buông tiếng nấc nghẹn, đưa tay lau giọt nước mắt lăn dài trên gò má hốc hác. Bằng siết chặt nắm tay, cảm thấy lồng ngực nhói lên vì tức giận trước sự tàn nhẫn của những kẻ giật dây hủ tục — Chị đừng tin lời xúi bẩy của họ! Cụ Triệu đã nhận cược danh dự, chính quyền xã và chi đoàn thanh niên cũng tuyệt đối không để ai ức h**p mẹ con chị. Mọi chuyện sắp sáng tỏ rồi, chị phải vững tâm để nuôi cháu Tủa.
Nghe tiếng người lạ trò chuyện, từ góc giường trải chiếu rơm, bé Sùng A Tủa lục đục ngồi dậy. Thằng bé sáu tuổi gầy gò, mắt sáng tròn xoe, trên tay cầm một chiếc chong chóng ba cánh tự gập bằng lá chuối rừng còn xanh mướt. Thấy Bằng, Tủa nhoẻn miệng cười, chạy lon ton lại gần — Chú Bằng! Chú xem này, chong chóng của cháu quay tít mù khi có gió đấy!
Bằng mỉm cười dịu lại, xoa đầu đứa trẻ rồi bế nó lên đùi — Giỏi quá, Tủa tự gấp đấy à?
— Vâng, bố cháu dạy cháu gấp từ năm ngoái đấy, — Thằng bé vô tư giơ chiếc chong chóng lá chuối lên trước luồng gió lùa qua khe cửa, cánh lá quay tít “xoè… xoè…”. Đột nhiên, Tủa nghiêng đầu, giọng hạ thấp như đang thì thầm kể một bí mật lớn: — Bố cháu bảo, gió thổi trên Đồi Quế Thượng vào ban đêm lạ lắm. Ngày xưa trước khi ốm, bố cháu hay dắt cháu đi tuần ranh đất, bố bảo đêm khuya trên vách đá hay có tiếng kéo cưa gỗ lách cách ghê rợn, lại có cả bóng người to tướng gùi từng bao tải nặng trịch đi qua lối mòn sau vách Thau Chua nữa cơ!
Chở giật mình, vội quát khẽ — Tủa, không được nói lăng nhăng! Ăn cháo đi con!
Nhưng Bằng thì sững người. Lồng ngực anh đập thình thịch từng hồi dồn dập.
"Tiếng kéo cưa gỗ… bóng người gùi bao tải qua lối mòn sau vách Thau Chua!"
Lời dặn dò ngây thơ của đứa trẻ như một tia chớp xé toạc màn sương mù bao phủ bấy lâu nay. Người chồng quá cố của Chở đã phát hiện vỏ quế bị rọc trộm từ năm 1978 trước khi đổ bệnh qua đời. Vết cưa gỗ dẻ, những đoạn dây thừng ba tao của Đội 2, mẩu bao tải gai bị cắt kéo bén ngót giắt nơi kẽ đá, vết nhựa quế thẫm sì dưới kẽ móng tay Lò Văn Khảm và vệt đất sét đỏ nơi đế giày vải bạt… Tất cả những manh mối rời rạc bỗng chốc khớp khít lại với nhau thành một bức tranh hoàn chỉnh!
Khảm và đồng bọn không chỉ dựng bẫy đá đón gió chướng để tạo tiếng gõ dọa ma, mà chúng còn lợi dụng bóng đêm và sự sợ hãi của dân bản để đẵn trộm quế, cưa xẻ gỗ dẻ chêm bẫy và bí mật gùi từng bao tải vỏ quế tuồn qua lối mòn hiểm trở sau vách đá để bán sang bên kia biên giới. Tiếng gõ ma quái ấy không phải oan hồn rừng sâu đòi huyết tế, mà là chiếc mặt nạ che đậy lòng tham vô đáy của những kẻ đục khoét tài sản hợp tác xã!
Bằng hít một hơi sâu, ngọn lửa tin tưởng bùng cháy rực rỡ trong mắt. Bản án oan đè nặng lên số phận người góa phụ tội nghiệp này nhất định sẽ bị đập tan trước thanh thiên bạch nhật.
— Chị Chở, chị cho Tủa ăn cháo rồi ngủ sớm đi. Hãy tin tôi và cụ Triệu, đêm trăng khuyết ngày hai mươi hai tới đây, mọi mây mù sẽ tan hết!
Bằng đứng dậy, siết chặt chiếc túi bạt bên hông rồi bước nhanh ra cửa. Gió đêm thung lũng ùa về se buốt qua rặng chuối sau vườn.
Thế nhưng, vừa bước chân qua khỏi cổng rào nứa nhà Chở, Bằng bỗng khựng lại, toàn thân cứng đờ.
Dưới bóng cây sau sau sừng sững đầu ngõ, một bóng đen gầy đét đang đứng nép mình bất động trong bóng tối. Ánh trăng thượng tuần yếu ớt lọt qua kẽ lá rọi xuống, làm ánh lên chuỗi hạt nanh thú lủng lẳng trước ngực kẻ nọ, lấp loáng những vệt sáng ma quái, lạnh tanh.
Bạn thích truyện này?
Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!
