Chương 2: Giọng Từ Phía Bắc
Diễm Phụng đứng chết lặng giữa gian bếp nhá nhem thêm một hồi lâu. Vệt mắm ruốc màu tím than khô se lại nơi khóe móng, rít rát như một lớp vảy muối bám chặt vào da thịt. Khẽ thở dài, bà bước chầm chậm lại lu nước mưa kê sát vách, múc từng gáo nước dội sạch đôi bàn tay thô ráp. Tiếng nước rơi lõm bõm xuống nền xi măng ẩm ướt, cuốn trôi đi lớp bột tôm bám ngoài da, nhưng mùi mắm nồng đượm ngấm vào từng thớ thịt qua mấy mươi năm thì chẳng dòng nước nào gột rửa cho hết. Bà lau tay vào vạt áo bà ba kẻ sọc xanh trắng, gài chặt then cửa rồi lên gác.
Trọn một ngày hôm sau, con hẻm 47 vẫn trôi đi trong cái nhịp điệu quen thuộc đến mòn mỏi. Chị Bông vẫn đẩy xe bánh mì lọc cọc qua thềm gạch, tiếng rao của bà bán ve chai lanh lảnh ngoài đầu ngõ. Ông Lành mấy bận đi ngang qua cửa nhà số 9, ngậm que tăm ghé mắt nhìn vào chiếc bàn gỗ trống trơn ngoài sân chung, thấy bà Phụng lui cui trong bếp thì cất tiếng hỏi bâng quơ vài câu thời tiết rồi lại lững thững bỏ đi. Bà Phụng chỉ ậm ừ đáp lại. Về tờ thông báo thu hồi đất dán đỏ chót nơi góc tường nhà số 1, bà không hé răng nửa lời với bất kỳ ai, kể cả ông Lành. Trưa nắng gắt, đợi lúc đầu hẻm vắng bóng người, bà đã lẳng lặng đi ra, đưa những ngón tay chai sần cạy mép tờ giấy trắng dán vội trên lớp vôi rêu phong, gỡ lấy một bản đem về. Tờ giấy khổ A4 gấp làm tư nằm im lìm trong túi áo bà ba bên ngực trái, cưng cứng cọ vào mạn sườn như một vết dằm chưa nhổ.
Đến sẩm tối, khi những ánh đèn tuýp vàng vọt từ hai mươi hai căn nhà lần lượt bật sáng, Diễm Phụng ngồi một mình trên căn gác lửng chật chội. Trước mặt bà là chiếc bàn gỗ con đã sờn nước sơn nâu. Trên mặt bàn, chiếc điện thoại cục gạch cũ kỹ nằm im lìm, lớp vỏ nhựa trầy xước loang lổ. Mấy chục năm nay, căn nhà ba mươi hai mét vuông này chỉ có bà bầu bạn với góc bếp và cái chum sành. Con Hạnh đi học rồi đi làm tít ngoài Hà Nội, họa hoằn lắm mới có chuyện cần kíp. Hồi đầu tháng trước, con Hạnh chỉ nhắn vỏn vẹn một tin cộc lốc báo việc gửi tiền thuốc men, bà đọc xong rồi để đó chứ không bấm nhắn lại. Còn cuộc gọi nghe thấy tiếng nhau gần nhất đã cách đây đúng sáu tháng.
Chiếc điện thoại trên bàn rung lên bần bật, kèm theo hồi chuông đơn âm the thé quen thuộc phá tan không gian tĩnh mịch. Màn hình đơn sắc chớp sáng ánh xanh lờ mờ, hiện lên dãy số quen thuộc mang đầu số Hà Nội mà bốn số cuối bà nhớ như in.
Diễm Phụng không vội bắt máy ngay. Bà ngồi yên nhìn màn hình chớp nháy thêm ba nhịp chuông nữa rồi mới vươn bàn tay to bè, thô ráp bấm nút nghe, áp chiếc loa nhựa rè rè vào tai “A lô.”
“Mẹ hả? Mẹ khỏe không?”
Đầu dây bên kia vang lên giọng nói rành rẽ, dứt khoát mang âm sắc miền Nam của con gái. Tiếng gió rít nhè nhẹ qua ống nghe lẫn trong tiếng còi xe xa xôi của một thành phố khác. Ba mươi tư tuổi, con Hạnh đã nói giọng Sài Gòn từ thuở đi học, không còn vương lại chút âm hưởng Huế nào của mẹ hay của cha.
“Khỏe. Ăn cơm nước chi chưa?” Bà Phụng hỏi, giọng trầm và ngắn.
“Con ăn rồi. Hôm nay con gọi báo với mẹ một việc. Cuối tuần sau con bay về Sài Gòn, có chuyện quan trọng cần bàn với mẹ.”
Bà Phụng hơi khựng lại. Ngón tay cái với khớp xương gồ ghề vô thức miết nhẹ lên viền nhựa của thân máy. Xưa nay, con Hạnh rất hiếm khi về nhà đột ngột, nhất là vào những ngày cuối năm bận rộn sổ sách kế toán. Mỗi lần nó về đều là những dịp lễ lớn, hoặc có việc gì hệ trọng lắm mới cất công mua vé máy bay. Vậy mà lúc này, nghe con nói có chuyện cần bàn, bà cũng không gặng hỏi xem đó là chuyện gì. Tính bà từ thời con gái ở Phú Vang đã thế, ít lời, chuyện gì chưa tới thì không cuống quýt gặng hỏi, cứ đợi việc ập đến trước mắt rồi liệu đường mà gỡ.
“Về mấy ngày?” Bà chỉ hỏi đúng ba tiếng.
“Con chưa biết nữa, còn tùy vào việc bàn bạc xong xuôi sớm hay muộn. Khi nào đặt vé xong con nhắn giờ cho mẹ.”
“Ừ. Cứ liệu việc mà đi.”“Dạ, vậy mẹ nghỉ sớm đi nghen.”
Đầu dây bên kia ngắt máy cái rụp. Tiếng tút dài đều đặn vang lên rồi tắt lịm. Màn hình điện thoại mờ dần rồi chìm hẳn vào bóng tối.
Diễm Phụng đặt chiếc máy cục gạch nằm lại trên mặt bàn gỗ. Bà ngồi im như pho tượng trên manh chiếu cói thêm một lúc lâu, lắng tai nghe tiếng tivi nhà hàng xóm bên kia vách tường rỉ rả phát chương trình thời sự buổi tối.
Rồi bà chậm rãi đứng dậy, men theo mấy bậc cầu thang gỗ ọp ẹp bước xuống tầng trệt. Căn bếp nhá nhem tối, chỉ có chút ánh sáng mờ mờ từ ngọn đèn đường ngoài hẻm hắt qua khe cửa gỗ sơn xanh tróc lở. Bà Phụng không bật đèn tuýp dài, chỉ với tay bật ngọn đèn trái ớt đỏ treo lủng lẳng trên vách bếp. Ánh sáng đỏ nhờ nhợ rải lên những vật dụng quen thuộc: chiếc chạn bát bằng nhôm xỉn màu, rổ tre úp nghiêng, và chiếc chum sành đen trũi to bằng nửa người ngự trị vững chãi ở góc nhà.
Bà với chiếc ấm nhôm cũ, châm nước đun sôi rồi chế vào chiếc ly thủy tinh da cam có nhúm trà móc câu khô. Hương trà xanh bốc lên thoang thoảng, chát nhẹ.
Bà bưng ly trà nóng, bước lại gần góc bếp.
Buổi tối, gian bếp lặng gió. Chiếc chum sành ủ mắm dường như cũng đang chìm vào một giấc ngủ sâu. Không giống như ban ngày khi nắng rọi vào làm hơi ấm bốc lên ngùn ngụt, ban đêm chum mắm tỏa ra một làn hương rất nhẹ. Phải đứng thật sát mép miệng chum, nơi lớp vải màn bọc kín miệng sành, mới ngửi thấy mùi mặn mòi, ngấu men của tôm đất quyện cùng muối hạt. Mùi hương ấy không gắt, không nồng nặc, mà trầm đặc, sâu hoắm như đáy giếng khơi, len lỏi vào từng tế bào khứu giác.
Hít một hơi thật sâu, Diễm Phụng nghe trong lòng mình một dải ký ức xưa cũ trồi lên theo làn hơi mặn ấy.
Năm ấy bà mười hai tuổi, ở gian nhà tranh ven đầm phá Thừa Thiên. Bàn tay thô ráp của chị Ba Thơm — mẹ bà — nắm chặt lấy cổ tay con gái, kéo sát đầu bà cúi rạp xuống chiếc nia tre đựng mớ tôm đất tươi rói vừa gánh từ chợ Đông Ba về. “Con ngửi coi, tôm ni còn tươi không?” Mẹ bà hỏi, giọng Huế trầm đặc mùi gió biển. Chiếc mũi non nớt của cô bé Phụng ngày đó hít vào: tôm tươi có mùi thanh khiết như nước sông đầu nguồn, thoáng chút vị mặn của phù sa, tuyệt nhiên không vương một gợn tanh nồng ươn thối. Bà gật đầu lia lịa dù chưa hiểu hết lời mẹ dạy, chỉ biết rằng kể từ buổi sáng hôm ấy, bà bắt đầu học cách ngửi mùi tôm, mùi muối, học cách phân biệt sự sống của từng mẻ mắm như những đứa trẻ trong làng ê a học đánh vần từng con chữ đầu đời.
Bà nhấp một ngụm trà nóng, vị đắng chát tan nhanh nơi đầu lưỡi rồi đọng lại vị ngọt hậu sâu hoắm nơi cuống họng. Đôi mắt hơi mờ của bà nhìn ra ô cửa thông gió nhỏ xíu khoét trên vách tường gỗ, hướng thẳng ra khoảng tối mênh mông cuối hẻm 47. Cây trứng cá già xao xác rụng lá xuống khoảng sân lát gạch tàu.
Con Hạnh bảo cuối tuần sau sẽ về. Nó nói có chuyện quan trọng cần bàn.
Bà Phụng không đoán già đoán non con gái sẽ nói chuyện gì, nhưng người đàn bà sáu mươi hai tuổi cả đời chìm nổi thừa hiểu con gái mình. Con Hạnh không bao giờ vô cớ lặn lội hàng ngàn cây số chỉ để về thăm mẹ vài ba hôm nếu không có một gút mắc lớn trong lòng. Chuyện của con Hạnh, rồi chuyện mảnh đất nơi con hẻm này... Trong đầu bà thoáng nghĩ: con Hạnh về, chuyện gì đến tay thì cũng phải xử lý cho xong, cái này xong xuôi rồi tính tới cái kia.
Bà uống cạn ngụm trà cuối cùng, đặt chiếc ly không lên bệ bếp. Đưa tay tắt phụt ngọn đèn trái ớt, căn bếp chìm hẳn vào bóng đêm đen đặc.
Bà Phụng lần từng bước thang gỗ bước ngược lên gác lửng. Bà ngả lưng nằm xuống manh chiếu cói trải trên sàn gỗ, hai mắt mở trừng trừng nhìn lên khoảng trần nhà tối om. Phía bên ngực áo, tờ thông báo thu hồi đất của quận gấp làm tư cưng cứng cọ vào mạn sườn theo từng nhịp thở thầm lặng. Con Hạnh sẽ về. Bà chưa biết hai việc ấy có dính líu chi đến nhau hay không, nhưng sự nhạy cảm của người cả đời canh từng mẻ mắm mách bảo bà một điều rõ ràng: tuần sau, con hẻm này sẽ khác.
Bạn thích truyện này?
Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!
