Chương 8: Thế Bám Ngàm Đá Bãi Hương
Hơn hai mươi ngày trôi qua kể từ đêm hai cha con chong đèn đẽo nêm, những đám mây đen nơi chân trời xa ngày càng vần vũ, kéo theo từng luồng gió chướng lạnh buốt quất ràn rạt vào rặng dừa Bãi Làng. Sớm nay, trời vừa hửng lên chút nắng non nhàn nhạt, mặt biển ngoài khơi xa vẫn cuộn từng đợt sóng lừng đục ngầu, tung bọt trắng xóa lên những mũi đá đen trơ trọi. Gió đổi chiều sớm mang theo hơi nước mặn chát táp thẳng vào mái chái nhà, nhắc nhở Bằng về mối hiểm nguy đang cận kề từng ngày.
Bè mây đực già buộc đá hộc dìm dưới lạch sâu Bãi Hương đã ngâm được hơn hai mươi ngày đêm. Dưới đáy nước lạnh buốt, từng thớ mây đang miệt mài uống no muối biển để rũ sạch vị ngọt tự nhiên, co cứng lại như gân thú. Nhưng Bằng hiểu rõ, mây dẻo dai đến mấy cũng chỉ là sợi dây truyền lực. Nơi ngực vách Hang Hạc cao hơn bốn mươi sải, thứ giữ mạng sống cho cha và các chú bác trước miệng vực sâu thẳm chính là thế cắn của những then nêm gỗ. Nếu chốt nêm không tự khóa chặt vào kẽ đá phong hóa, mọi công sức ngâm mây nấu rái cũng chỉ trôi sông đổ biển.
Không thể ngồi yên chờ con nước tròn ba mươi ngày, ngay đầu giờ sáng, Bằng xin cha mang những chốt gỗ nghiến vừa đẽo xong ra ghềnh đá Bãi Hương thử sức bám.
Chiếc thuyền nan bốn sải của Lê Định rẽ sóng đưa Bằng, chú Bảy Sậy cùng bốn thợ bạn khỏe nhất phường thợ lướt qua bãi cát ven bờ. Dưới khoang thuyền, Bằng cẩn thận ôm chiếc giỏ nan đựng ba cặp nêm kép gỗ nghiến đẽo gọt suốt mấy đêm ròng, một cuộn dây thừng bện vỏ cây chịu lực to bằng bắp tay và đoạn mây mẫu ngắn đã được cậu ngâm nước mặn thử trước từ chuyến đi Hòn Khô.
Cập bến Bãi Hương, mũi thuyền vừa chạm rạn đá, Bằng liền dẫn mọi người men theo triền đá đến một bãi đá vôi phong hóa nằm chơ vơ sát mép sóng. Những khối đá ở đây ngàn năm dầm mưa dãi nắng, nứt nẻ chằng chịt, kết cấu xốp giòn và mục rỗng hệt như vách đá ngoài Hang Hạc.
Bằng ngồi thụp xuống trước một tảng đá xám xịt, gạt bỏ lớp vỏ ốc bám rồi miết ngón tay dọc theo một kẽ nứt hiểm hóc. Kẽ nứt xẻ dọc thân đá rộng chừng hai ngón tay, sâu hoắm vào trong, mép đá rộp lên từng mảng bột vôi trắng xóa. Chỉ cần lấy ngón tay cạy nhẹ, đá vụn đã rã ra rơi lả tả.
Bốn người thợ bạn đi cùng nhìn nhau, trên gương mặt sạm đen lộ rõ vẻ hoài nghi. Anh Năm Cát, người có đôi vai vạm vỡ chuyên kéo dây tời, lắc đầu cất giọng ngập ngừng — Cháu Bằng ơi, đá này mục rỗng tới tận ruột rồi. Kẽ nứt to tướng lại bở rệu rã như bánh đa ngâm nước, gõ một nhát búa sắt vào e rằng vỡ toang cả tảng, nêm gỗ làm sao mà ăn sâu cho nổi?
Chú Bảy Sậy cũng bước tới, chắp hai tay sau lưng, nheo mắt nhìn kẽ đá rồi tặc lưỡi — Thằng ranh con khéo lựa chỗ ghê chưa! Bữa trước ở Hòn Khô, đá còn cứng hơn chỗ này mà cọc sắt vừa nện vô gặp lực giật đã bửa đôi ngàm đá, hất tao bay tút xuống ghềnh suýt nát xương. Nay mày tính nêm khúc gỗ vô cái khe nứt toang hoác này để thử, ngộ nhỡ nó toác ra thì giàn nào gánh cho thấu?
Bằng ngẩng lên, bắt gặp ánh mắt trầm ngâm của cha đang dõi theo mình. Cậu không vội đáp lời chú Bảy, mà rút từ trong sọt ra chiếc nêm cái bằng gỗ nghiến già sẫm màu mật mía. Cậu đưa mặt nêm cho mọi người xem, rành rẽ phân trần — Dạ thưa cha, thưa chú Bảy và các anh, cọc sắt kiếp… cọc sắt bữa trước nhọn hoắt, khi chịu lực kéo giằng thì đỉnh cọc đóng vai trò như một chiếc nêm chẻ củi, đâm sâu chừng nào càng tách toác hai mép đá ra chừng nấy. Đá vôi phong hóa vốn giòn, gặp lực nêm xé ngang thì ắt phải vỡ vụn. Nhưng nêm gỗ nghiến này lại khác.
Bằng đặt chiếc nêm cái vào miệng kẽ nứt, chỉ ngón tay vào phần lưng nêm xẻ rãnh hình lòng máng — Nêm cái này có lưng phẳng tựa khít vào vách rãnh nứt, bản nêm rộng để dàn đều lực tì đè lên toàn bộ mặt đá chứ không đâm nhọn vào một điểm. Cha giúp con, gõ nêm cái này vào ngàm đá nghen cha. Nhớ gõ đều tay theo chiều xiên ba mươi độ, để rãnh lòng máng hướng thẳng xuống chiều dây kéo.
Lê Định gật đầu, ánh mắt ánh lên nét cương nghị. Người thợ cả đón lấy chiếc nêm cái, đặt chuẩn xác vào vị trí Bằng vừa đánh dấu. Tay ông vung chiếc vồ gỗ ổi lên cao.
“Cốc... cắc... thụp!”
Từng nhát vồ nện xuống đanh gọn. Khúc gỗ nghiến già cứng như đanh trượt dần vào kẽ nứt. Bằng ghé sát mắt quan sát. Kỳ lạ thay, mép đá vôi rệu rã xung quanh không hề bị nứt toác như khi đóng cọc sắt; bản nêm rộng ôm sát theo vết rạn tự nhiên, lèn chặt bột đá vào các khe hở nhỏ, biến chiếc nêm cái thành một mấu neo bám rễ sâu vào lòng đá.
Khi nêm cái đã ngập hai phần ba thân gỗ, Bằng lấy đoạn mây mẫu ngâm nước mặn luồn qua vòng thắt của dây thừng chịu lực. Đoạn mây được uốn cong ôm trọn lấy chiếc nêm đực. Bằng lựa tay chêm nêm đực vào lòng máng của nêm cái, khéo léo để phần vát ngược của nêm đực gài khớp vào gờ hãm.
“Khấc!”
Một tiếng kêu khô khốc vang lên. Hai mảnh gỗ nghiến cắn chặt lấy nhau, kẹp chặt vòng mây ở giữa.
— Xong rồi đó cha! — Bằng thở phào, đứng thẳng dậy lùi ra sau ba bước. — Giờ xin chú Bảy và các anh thử lực giùm con. Hãy dùng đòn bẩy kéo giật hết sức bình sinh, xem đá có nứt hay nêm có tuột không!
Chú Bảy Sậy nhổ bãi bọt vào lòng bàn tay xoa xoa, liếc nhìn bốn thợ bạn lực lưỡng:— Được rồi! Năm Cát, Ba Đen, Sáu Vược, Chín Đồi, vào việc! Kiếm cây đòn bẩy gỗ giẻ luồn qua tròng dây thừng, anh em mình cùng ghì xem sáng kiến của thằng Bằng chịu nổi mấy hơi!
Bốn người thợ bạn lập tức vào vị trí. Một khúc đòn bẩy gỗ giẻ to bằng bắp chân được luồn qua đầu dây thừng chịu lực. Năm người đàn ông vạm vỡ chụm gót chân trần bè rộng bám chặt vào mặt đá hoa cương gồ ghề.
— Chuẩn bị! Một... hai... ba... bửa! — Chú Bảy Sậy gầm lên một tiếng.
Năm tấm lưng trần cuồn cuộn gân cốt ngửa rạp về phía sau. Đòn bẩy gỗ giẻ cong oằn như cánh cung, sợi dây thừng căng phựt, phát ra tiếng rít ken két rợn người. Lực kéo giằng nghìn cân dồn toàn bộ lên đoạn mây mẫu và mấu nêm gỗ nghiến.
Bằng nín thở, đôi mắt không rời khỏi khe đá dù chỉ một cái chớp mi.
Dưới sức giằng xé kinh hồn của năm người thợ dày dạn sóng gió, chiếc nêm đực hơi nhích tới trước một ly theo chiều kéo. Nhưng chính cú trượt nhẹ ấy đã khiến gờ mộng vát ngược cắn chặt vào nhau. Nêm đực trượt tới đâu, phần bụng nở rộng của nó càng ép mạnh nêm cái tì chặt vào hai thành vách đá. Hai bề mặt gỗ nghiến cắn riết lấy nhau, thớ gỗ ken chặt phát ra tiếng kèn kẹt khô giòn.
Lực kéo càng hung hãn, hai chiếc nêm càng ghì chặt lấy nhau như hai hàm răng ngậm chặt lưỡi câu. Ngàm đá vôi xung quanh không hề xuất hiện một vết rạn mới nào, không một hạt bụi đá nào rơi rụng. Cả khối nêm và tảng đá như đã hòa làm một thể vững chãi như bàn thạch.
— Ráng lên anh em! Giật thêm cái nữa coi! — Chú Bảy Sậy đỏ gay mặt mày, gân cổ nổi phồng như chão rách, ra sức dậm chân lấy đà giật mạnh.
Bốn thợ bạn cũng nghiến răng trồi cả bắp thịt, dồn toàn bộ trọng lượng cơ thể giật thốc liên hồi ba nhịp. Thế nhưng, mấu nêm gỗ nghiến vẫn cắm phập tại chỗ, im lìm thách thức mọi sức mạnh cơ bắp.
Cuối cùng, hơi sức đã cạn, năm người đàn ông đành buông tay khỏi đòn bẩy. Họ ngã ngồi bệt xuống mặt đá lởm chởm, th* d*c từng cơn hổn hển, mồ hôi vã ra như tắm ướt đẫm manh áo nâu vá chằng vá đụp.
Chú Bảy Sậy bò lồm cồm lại gần ngàm đá, đưa bàn tay run rẩy sờ nắn từng mép gỗ, rồi lại gõ gõ vào tảng đá vôi xung quanh. Mép đá vẫn nguyên vẹn, rãnh nứt không hề suy suyển một ly.
— Trời đất quỷ thần ơi... — Chú Bảy ngửa mặt lên trời, rồi đột ngột vỗ mạnh vào bả vai Bằng làm cậu lảo đảo, giọng chú lạc đi vì kinh ngạc tột cùng: — Càng kéo càng cắn chặt! Đúng là nó tự khóa chết vô đá thiệt rồi! Năm thằng trâu mộng kéo mà không lay chuyển nổi một phân! Thần tình quá Bằng ơi!
Bốn người thợ bạn trố mắt nhìn nhau, rồi đồng loạt òa lên cười trong nỗi kinh ngạc sững sờ. Anh Năm Cát chạy lại xoa đầu Bằng, giọng đầy thán phục — Khá lắm cháu Bằng! Cả đời đi gành đi bãi của tao chưa từng thấy ngón nghề nào kỳ lạ mà đắc dụng dường này! Có bộ nêm này neo giàn thì bố bảo gió chướng cũng không bứng nổi chân ta!
Bằng khẽ quay sang nhìn cha. Lê Định đang quỳ một chân bên ngàm đá, những ngón tay chai sạn của ông nhẹ nhàng miết lên từng đường mộng gỗ nghiến. Đôi vai vạm vỡ của người thợ cả khẽ run rẩy, khóe mắt ông ánh lên niềm tin tưởng tuyệt đối và sự nhẹ nhõm vô bờ sau chuỗi ngày nơm nớp lo âu. Mọi nỗi hoài nghi, e sợ đè nặng lên phường thợ bấy lâu nay dường như đã bị cú giật của đòn bẩy đánh tan thành mây khói.
Giữa lúc tiếng cười nói reo mừng đang vang dội cả một góc ghềnh Bãi Hương, từ phía doi cát ngoài lạch bỗng vang lên tiếng bước chân chạy dồn dập.
— Bác thợ cả ơi! Chú Bảy ơi! Có biến rồi! — Tiếng kêu thất thanh xé toạc bầu không khí hân hoan.
Một bóng người hớt hải lao tới, trượt ngã dúi dụi trên bờ đá rồi lồm cồm vùng dậy chạy tiếp. Đó là chú Hai Rái, người thợ lặn túc trực trông coi bến lạch Bãi Hương. Mặt chú tái mét không còn giọt máu, lồng ngực phập phồng thở không ra hơi, vừa thở vừa chỉ tay về phía rạn đá ngoài khơi xa — Đàn yến... chim yến ngoài Hang Hạc bắt đầu kéo về rồi! Gió chướng đổi chiều sớm, đàn chim từ biển khơi bay rợp trời chui tọt vô hang nhả dãi làm tổ sớm hơn lệ thường cả nửa tuần trăng!
Tiếng reo cười trên ghềnh đá lập tức tắt lịm. Nụ cười trên môi Lê Định và chú Bảy Sậy đông cứng lại.
Bằng giật thót tim, lồng ngực thắt nghẽn. Chim về làm tổ sớm nghĩa là mùa yến đã gõ cửa, nhưng bè mây đực dìm dưới đáy lạch sâu Bãi Hương vẫn còn thiếu tới mấy ngày đêm nữa mới tròn một con nước ba mươi ngày. Nếu vớt non, mây sẽ bở bục không chịu nổi giông bão; còn nếu chờ đủ ngày, chim đẻ trứng xong thì lệnh quan trên ập xuống, phường thợ sẽ lại bị ép dùng giàn cũ leo lên vách đá tử thần!
Bạn thích truyện này?
Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!
