Chương 7: Nhát Đục Gỗ Nghiến

Khi chiếc thuyền nan chở chuyến mây đực cuối cùng rời lạch sâu Bãi Hương quay về bến Bãi Làng, ráng chiều màu vỏ quýt đã lịm dần sau dãy núi đá. Từng đợt sóng bạc đầu vẫn bền bỉ vỗ vào bờ cát, mang theo hơi muối mằn mặn phả vào rặng dừa xanh ngắt. Bước lên bến, đôi chân trần của Bằng bấm sâu vào nền cát ướt. Hai bàn tay cậu, nơi dải vải nâu cha xé vạt áo quấn chặt hồi trưa, đã bắt đầu rỉ máu tươi qua những vệt máu thẫm khô cứng. Cơn đau buốt nhói lên theo từng nhịp thở, nhưng trong lồng ngực Bằng, một ngọn lửa ấm áp và quả quyết đang bừng sáng. Lời đe dọa của Cai đội Tạ Đô cùng kỳ hạn ba mươi ngày dìm mây vẫn còn lởn vởn bên tai, nhưng trước mắt Bằng, con đường giữ lấy mạng sống cho phường thợ đã bắt đầu lộ rõ.

— Về nhà thôi hai cha con, mau kẻo chị Mùi ngóng, — Chú Bảy Sậy vừa buộc dây mũi thuyền vào cọc gỗ vừa giục, giọng vẫn còn chút run rẩy sau phen suýt rơi vách đá ban chiều.

Căn nhà ba gian mái tranh của gia đình Lê Định nép mình yên bình dưới bóng dừa Bãi Làng. Dưới mái chái hiên, ngọn đèn dầu rái đã thắp lên tự bao giờ, tỏa ánh sáng vàng quạch cùng mùi nhựa thơm nồng quen thuộc của biển cả. Thấy bóng chồng con bước vào sân, má Mùi buông vội chiếc rổ đan dở chạy ra, xót xa nhìn dải vải quấn quanh đôi tay Bằng — Bằng ơi, tay con làm sao thế này? Có đau lắm không con?

— Dạ má, con chỉ xước da một chút lúc giữ dây gành đá thôi, không sao đâu má, — Bằng mỉm cười trấn an, giọng rành rẽ và ấm áp. Cậu không muốn má phải hoảng sợ vì mối hiểm nguy vừa trải qua nơi gành Hòn Khô.

Lê Định khẽ đặt bàn tay rộng dày lên vai vợ, trầm giọng — Thằng Bằng gan dạ lắm, mình đừng lo. Nay nó lập công lớn cứu chú Bảy đấy. Mau dọn cơm cho anh em ăn lấy sức, đêm nay còn nhiều việc phải làm.

Bữa cơm tối đạm bạc chỉ có niêu cơm gạo đỏ, đĩa cá liệt kho tiêu thơm lừng và bát canh rau bình bát nấu tôm khô, nhưng ba người đàn ông và người phụ nữ quây quần trong sự ấm êm lạ kỳ. Má Mùi vừa xới cơm vừa lặng lẽ gắp miếng cá nạc nhất bỏ vào bát con trai, ánh mắt chan chứa yêu thương.

Cơm nước xong xuôi, chú Bảy Sậy uống cạn bát nước chè vằng đặc sánh, chép miệng sốt ruột — Anh Định này, bè mây đực đã dìm xuống đáy lạch, nhưng tận ba mươi ngày nữa mới vớt lên luộc dầu rái. Còn cái giàn treo ngoài Hang Hạc cao hơn bốn mươi sải đá vôi nứt nẻ kia, ta tính sao? Cọc sắt nện vào là toác, chẳng lẽ ta khoanh tay chờ Tạ Đô gông cổ?

Lê Định không đáp ngay. Ông quay sang nhìn Bằng, ánh mắt người thợ cả già dặn ánh lên vẻ chờ đợi — Bằng, chiều nay ở bến bãi, con bảo trước mặt quan tuần là dùng chốt nêm gỗ nẹp chặt ngàm đá. Giờ con nói rõ cho cha với chú Bảy nghe xem, gỗ nào chịu nổi sức giằng của giàn treo bốn mươi sải dựng đứng?

Bằng đứng dậy, đi về phía góc lẫm chứa sau nhà. Dưới ánh sáng vàng vọt của ngọn đèn dầu rái, cậu cúi người bới lớp trấu khô phủ dày trên nền đất nện, lôi ra ba súc gỗ xù xì, đen sẫm như đá tảng rồi đặt lên chiếc phản mun nơi chái nhà — Gỗ nghiến già, thưa cha. Đây là những súc gỗ nghiến kẹp đá cha cất giữ từ đợt đi rừng Hòn Lao ba năm trước. Thớ gỗ mịn như sừng, ngâm nước chẳng mục, phơi nắng chẳng nứt, cứng hơn cả sắt nguội.

Lê Định bước lại gần, xoa tay lên thớ gỗ mát lạnh rồi lắc đầu — Đúng là gỗ nghiến già. Nhưng gỗ cứng đến mấy thì nêm vào kẽ nứt đá vôi cũng chỉ là một cái chốt đơn. Khi thợ đu dây giật mạnh, ngàm đá bên ngoài vẫn chịu sức bửa ngang mà toác ra như thường.

— Dạ cha, nếu dùng một chốt đơn thì đá ắt toác, — Bằng mỉm cười, cầm mẩu than củi trong bếp tro, thoăn thoắt vẽ lên mặt phản mun. — Nhưng nếu ta làm chốt nêm kép, một mẹ ôm một con, thì chuyện lại khác hẳn.

Chú Bảy Sậy tò mò ghé sát đầu lại, tròn mắt nhìn những vệt than đen sắc nét dưới tay thằng bé mười ba tuổi. Bằng chỉ vào hình vẽ, giải thích cặn kẽ từng chi tiết — Thưa cha, thưa chú Bảy, kẽ nứt đá vôi Hang Hạc phong hóa lâu năm, luôn có thế hẹp trong rộng ngoài. Con chia chốt làm hai phần: nêm cái và nêm đực. Nêm cái bản rộng, xẻ một rãnh khuyết hình lòng máng ở giữa, mặt lưng vát theo đúng độ dốc của kẽ đá. Khi đóng nêm cái vào, nó cắm sâu và bám chặt vào lòng vách mà không hề tạo sức ép bửa sang hai bên mép nứt.

— Còn nêm đực thì sao cháu? — Chú Bảy sốt ruột hỏi, ngón tay gầy gò chỉ vào nét vẽ bên cạnh.

— Nêm đực có sống thon, ôm trọn lấy vòng dây mây neo giàn rồi chêm khít vào rãnh khuyết nêm cái, — Bằng ngước nhìn cha, ánh mắt sáng ngời. — Then chốt ở chỗ hai nêm được đẽo theo chiều vát ngược. Khi anh em thợ đu dây xuống vực, sức nặng của người và giàn kéo ghì sợi mây. Sợi mây không kéo giật vào ngàm đá, mà kéo nêm đực trượt sâu vào lòng nêm cái. Càng kéo mạnh, hai thớ gỗ nghiến càng ép chặt lấy nhau, tự khóa mộng lại thành một khối. Sức kéo càng dữ, then càng chặt, đá vôi tuyệt đối không chịu một chút lực xé ngang nào!

Không gian dưới mái chái bỗng chốc im phăng phắc. Chỉ còn tiếng gió biển thổi qua ngọn dừa xào xạc và tiếng dầu rái lép bép cháy trong đĩa gốm.Lê Định đứng sững, đôi mắt mở to nhìn nét vẽ than củi trên mặt phản. Từng lời của Bằng như luồng sáng xé toạc màn sương bế tắc bấy lâu trong tâm trí người thợ cả. Ba mươi tám năm dọc ngang gành đá, ông chưa từng thấy ai nghĩ ra một phép giằng néo tài tình đến nhường ấy: thuận theo thế đá, mượn chính sức nặng của hiểm nguy để tự khóa chặt sinh mệnh con người.

— Hay... hay quá trời đất ơi! — Chú Bảy Sậy vỗ đùi đánh đét một cái, reo lên nghẹn ngào. — Càng kéo càng khít, càng nặng càng chặt! Thế này thì giông gió nào bứng nổi giàn treo!

Lê Định không reo lên như bạn mình, nhưng lồng ngực vạm vỡ của ông phập phồng xúc động. Ông cúi xuống, nhìn sâu vào đôi mắt trong veo mà thâm trầm của con trai, nghẹn giọng — Bằng... ai chỉ cho con phép nêm này? Có phải linh hồn ông nội mách bảo con trong mộng không?

Bằng khẽ rủ mi mắt, giấu đi nỗi niềm dằn vặt của bốn mươi năm kiếp trước. Bốn mươi năm tàn phế nằm ngắm vách đá, từng vết nứt, từng thớ gỗ đã được cậu nghiền ngẫm đến nát vụn tâm can. Cậu ngẩng lên, nắm lấy bàn tay thô ráp của cha — Dạ cha, là những đêm con xem cha đẽo mộng thuyền, nhớ lời cha dặn đá nứt thì phải tìm đường hãm. Đêm nay, con xin cha cho con cùng đẽo bộ nêm này!

— Được! Đẽo! — Lê Định dứt khoát đáp, giọng trầm ấm vang lên như tiếng lệnh xuất bến.

Người thợ cả với tay lấy chiếc đục sắt tôi nước mặn cán mun cùng chiếc vồ gỗ ổi từ góc cột. Thấy cha toan cầm đục đẽo thay vì xót bàn tay con đang đau, Bằng nhẹ nhàng đón lấy chuôi đục.

Dưới ánh đèn dầu rái đỏ ấm, hai bàn tay quấn vải nâu của Bằng cầm chắc chiếc đục. Vết thương cọ vào gỗ mun buốt nhói, nhưng từng ngón tay cậu như gắn liền với linh hồn của thép và gỗ.

“Cốc... cốc... chát!”

Tiếng đục đẽo bắt đầu vang lên giòn giã dưới mái chái. Nhát đục đầu tiên phạt đi lớp vỏ xù xì, để lộ ra thớ gỗ nghiến mịn màng, sẫm màu như mật mía cô đặc. Bằng không hề ngập ngừng một ly. Đôi mắt cậu chăm chú dõi theo từng đường vân, cổ tay đưa đục thoăn thoắt, lướt ngọt xớt trên mặt gỗ cứng như đá.

Mỗi nhát đục hạ xuống là một lát gỗ mỏng bay ra, mở lối cho đường rãnh khuyết hình lòng máng của nêm cái. Bằng nghiêng góc đục ba phân, vát nhẹ hai bên mép để tạo gờ hãm. Từng góc cạnh, từng đường mộng ăn khớp khít khao đến mức kinh ngạc, như thể hình hài của chiếc then nêm đã nằm sẵn trong lòng khúc gỗ từ nghìn năm trước, chỉ chờ bàn tay cậu đánh thức.

Lê Định ngồi ghì khúc gỗ cho con, mắt không rời từng cử động nhỏ của Bằng. Dưới ánh đèn dầu rái, Lê Định lặng lẽ ghì chặt súc gỗ, đôi mắt đỏ hoe ngấn nước vì xúc động khi nhìn từng đường đục chuẩn xác của con trai. Trong mắt người thợ cả dạn dày sóng gió, đứa con mười ba tuổi lúc này bỗng đĩnh đạc lạ thường, hệt như một bậc thầy bách nghệ đang dốc trọn tâm lực chở che cho xóm đảo.

Đến canh ba, chiếc nêm cái và nêm đực đầu tiên đã hoàn thành trọn vẹn. Bằng buông đục, lau vội mồ hôi trên trán rồi cầm hai mảnh gỗ nghiến ráp lại với nhau.

“Khấc!”

Một tiếng kêu đanh gọn vang lên. Nêm đực trượt vào lòng nêm cái êm ru, hai bề mặt gỗ hít chặt vào nhau khít rịt, không một kẽ hở nào có thể lọt qua nổi sợi tóc. Chú Bảy Sậy cầm lấy thử dùng hết sức bình sinh giằng ra theo chiều dọc, nhưng hai chiếc nêm càng cắn chặt vào nhau không suy suyển lấy một phân.

— Thần tình thật... đúng là then khóa trời ban! — Chú Bảy lắc đầu thán phục, khóe mắt rơm rớm.

Lê Định đón lấy cặp nêm gỗ nghiến từ tay bạn, cẩn thận miết ngón tay chai sạn lên từng đường mộng nhẵn bóng. Nét mặt căng thẳng của người thợ cả giãn ra, ánh lên niềm yên lòng và nỗi tự hào khôn xiết. Ông ngước nhìn con trai, khẽ mỉm cười rạng rỡ, xua tan đi nỗi lo âu trĩu nặng từ bản án của quan nha.

Bằng thở phào một hơi nhẹ nhõm, ngả lưng tựa vào cột chái nhà. Bàn tay rát buốt dường như chẳng còn nghĩa lý gì trước niềm vui sướng đang trào dâng.

Tiếng đục đẽo của hai cha con lại tiếp tục vang đều trong đêm thanh vắng, hòa cùng tiếng thở dài nhẹ nhõm của chú Bảy Sậy và tiếng sóng vỗ gành êm ả ngoài bãi xa.

Thế nhưng, khi Bằng đưa mắt nhìn qua kẽ lá dừa hướng về phía biển khơi xa xăm, nơi chân trời thẫm tối bỗng cuộn lên những đám mây đen vần vũ, xé rách màn đêm. Gió ngoài khơi bắt đầu rít lên từng hồi buốt lạnh qua vách đá, báo hiệu luồng gió chướng hung dữ đang đổi chiều sớm hơn mọi năm, chực chờ thử thách sinh mệnh của những người con xứ đảo.

Bạn thích truyện này?

Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!

Hãy là người đầu tiên để lại đánh giá cho tác phẩm này.