Chương 6: Dìm Mây Xuống Lạch Sâu

Vị mặn chát của bọt sóng hòa lẫn mùi máu tanh nồng xộc thẳng vào cánh mũi Bằng. Cơn đau từ hai bàn tay non nớt giật lên từng hồi buốt nhói, rát bỏng như bị vùi vào đống than đỏ. Máu tươi rỉ qua kẽ tay, nhỏ từng giọt đặc quánh nhuộm đỏ thẫm cán chiếc rựa cùn đang găm sâu trong ngàm đá.

Lê Định chớp mắt, dường như lúc này mới bừng tỉnh khỏi cơn chấn động tột cùng. Người thợ cả lao vội tới, hai đầu gối quỳ rầm xuống nền đá sắc lạnh trước mặt con trai — Bằng! Con... tay con làm sao thế này? — Tiếng Lê Định run rẩy, lạc hẳn đi giữa tiếng sóng gầm gào.

Thấy thớ gân trắng bệch rung lên sau làn máu đỏ, khóe mắt người cha dạn dày sóng gió bỗng đỏ hoe. Không chậm trễ, Lê Định vội xé toạc dải vải dài từ vạt áo nâu thô, cẩn thận cuốn chặt quanh lòng bàn tay con để cầm máu. Hơi ấm cùng sự run rẩy từ những ngón tay thô ráp của cha truyền qua lớp vải khiến lòng Bằng ấm sực, xua bớt cái lạnh buốt của gió muối ngoài gành.

Chú Bảy Sậy bò nhoài trên gờ đá tới gần, mặt vẫn cắt không còn giọt máu. Chú run rẩy đưa bàn tay chai sần sờ lên vai Bằng, giọng nghẹn ứ nơi cổ họng — Cháu Bằng... Trời phật ngó xuống, nếu không có cái rựa với bàn tay mày ghì then chốt lại, cái mạng già của chú Bảy đã tan nát dưới đáy vực rồi! Ơn này... chú mang suốt đời chớ chẳng dám quên!

Hai người thợ bạn đứng cạnh cũng chết lặng nhìn mảng đá phong hóa vừa vỡ toác thành rãnh sâu hoắm. Nỗi kinh hoàng hằn sâu trên từng gương mặt sạm đen vì nắng gió.

— Thôi rồi anh Định ơi... — Một người thợ bạn ngồi bệt xuống nền đá, thất thần r*n r*. — Vách đá Hang Hạc đã rã mục đến nước này, cọc sắt truyền đời đóng vào là toác ngàm, đu người ra là rớt vực. Đem mạng anh em nạp cho đá ngầm rứa thì mần răng mà dựng giàn lấy yến nạp cống?

Cả phường thợ chìm vào hoang mang tột độ. Lối đóng cọc sắt bao đời của tiền nhân bỗng chốc trở thành chiếc thòng lọng đoạt mạng treo lơ lửng trên đầu từng người.

Lê Định nghiến chặt quai hàm, ánh mắt trĩu nặng nhìn mảng vách nứt nẻ. Ông cúi người rút chiếc rựa cùn giắt lại vào đai gai cho Bằng, rồi cất giọng khàn đặc — Thu dọn dây rác, xuống thuyền! Mau về bến Bãi Làng tính tiếp!

Chiếc thuyền nan rẽ sóng đưa phường thợ quay về bến bãi Bãi Làng. Bằng ngồi ở khoang giữa, hai bàn tay quấn vải nâu buốt nhức từng chập, nhưng ánh mắt cậu vẫn dõi đăm đăm về phía bến cát. Cậu hiểu rõ nỗi sợ hãi đang bóp nghẹt tâm can của cha và các chú bác. Nếu không dẹp tan lề thói cũ, thảm kịch kiếp trước chắc chắn sẽ tái diễn.

Vừa lúc mũi thuyền cọ vào doi cát mịn Bãi Làng, từ ngoài vụng biển, một chiếc thuyền tuần sơn đỏ sẫm rẽ sóng lao vun vút vào bờ. Lá cờ đuôi nheo thêu chữ của Ty Tuần hải bay phần phật trong gió chướng.

— Thuyền quan tới kìa anh em! — Một tiếng hô hoảng hốt vang lên từ xóm chài.

Thuyền tuần vừa chạm cọc neo, Cai đội Tạ Đô đã nhảy phắt xuống doi cát. Tay phe phẩy quạt lông ngà, năm tên tuần đinh lăm lăm câu liêm bám sát phía sau. Cặp mắt ti hí của Tạ Đô quét qua đống dây mây chắp vá và gương mặt tái mét của đám thợ — Lê Định! — Tạ Đô chống tay lên hông, giọng the thé cất lên đầy trịch thượng. — Chưa hết hạn ba ngày mà bản chức nghe tin các ngươi kéo nhau ra gành thử dây rồi lại cụp đuôi quay về? Giàn yến ngoài Hang Hạc đâu? Sao chưa thấy cọc sắt cắm lên vách?

Lê Định bước lên phía trước, chắp tay khom lưng — Bẩm thầy cai, vách đá Hòn Khô phong hóa nặng nề, cọc sắt đóng vào lập tức toác ngàm. Thợ phó Bảy Sậy vừa suýt bỏ mạng ngoài gành, dây mây cũ cũng đứt gãy. Cúi xin thầy cai mở lượng bao dung, cho phường thợ thêm nửa tháng tìm cách...

— Láo xược! — Tạ Đô quát tháo ầm ĩ. — Mùa chim làm tổ chẳng đợi ai! Tháng sau chuyến thuyền cống của quan Trấn thủ dinh Quảng Nam phải nhổ neo về kinh đô Phú Xuân nộp đủ một trăm hai mươi cân yến sào thượng phẩm. Chậm một ngày, cái đầu của ta rớt xuống đất thì cả lũ dân đen các ngươi cũng đừng hòng toàn mạng! Hạn chót trôi qua, nếu không chịu dựng giàn đưa người ra hang vét yến cống nạp, bản chức sẽ gông cổ thợ cả tống giam vào ngục tối, tịch thu toàn bộ thuyền bè xóm đảo! Nghe rõ chưa?

Tiếng quát the thé như xé toạc bầu không khí yên bình của bến bãi. Mấy người thợ bạn co rúm lại, chú Bảy Sậy run rẩy toan bước ra quỳ lạy van lơn.

Nhưng Bằng không để điều đó xảy ra.

Cậu nén cơn buốt rát ở hai bàn tay, bước dứt khoát lên đứng ngang hàng với cha. Vóc dáng c** nh* bé trước gã quan cai đội hung bạo, nhưng đôi mắt mười ba tuổi lại ánh lên vẻ kiên nghị lạ thường:— Bẩm thầy cai, — Bằng cất giọng rành rẽ, âm vang đanh gọn át cả tiếng sóng vỗ bờ cát. — Người chết thì lấy ai hái yến nạp cống?

Tạ Đô khựng lại, đôi mắt ti hí trợn trừng nhìn thằng bé chừng mười ba tuổi dám ngắt lời mình — Thằng ranh con nhà ai dám ăn nói hỗn xược trước mặt bản chức?

— Thảo dân là con trai thợ cả, — Bằng ngẩng cao đầu đối diện ánh nhìn soi mói của Tạ Đô. — Đá vôi Hang Hạc đang mùa tróc lở, cọc sắt nện vào làm toác ruột đá, người đu dây ắt rơi vách nát thây. Thợ ngã giàn tan, yến hỏng vách rỗng, chuyến thuyền cống về kinh ắt tay trắng. Khi ấy tội trễ hạn ngạch, ai sẽ gánh thay cho quan bác?

Tạ Đô thoáng biến sắc trước lời lẽ rành rọt của thằng bé, nhưng vẻ hống hách vẫn lộ rõ — Vậy phường thợ các ngươi định khoanh tay chịu trói à?

— Thảo dân có ngón nghề giữ vẹn toàn tính mạng thợ giàn mà vẫn thu trọn yến già thượng phẩm, — Bằng dõng dạc nói, từng lời đanh thép. — Đem mây đực già dìm xuống lạch sâu Bãi Hương ngâm trọn một con nước đúng ba mươi ngày đêm. Thớ mây ngậm mặn săn sít lại, dai gấp ba lần mây thường, không sợ mục ruỗng. Sau đó kết hợp chốt nêm gỗ nẹp chặt ngàm đá, sóng gió mười phần cũng không lay chuyển. Đúng ba mươi ngày sau, giàn mới sẽ cắm vững vàng trên vách Hang Hạc!

Lê Định bước lên một bước, thân hình vạm vỡ như bức tường đá che chở bên cạnh con trai. Người thợ cả chắp tay, giọng hào sảng vang rền — Con tôi nói phải! Tôi lấy cái đầu của thợ cả Lê Định này ra bảo lãnh. Xin thầy cai cho hạn ba mươi ngày dìm mây đóng giàn. Nếu đến kỳ không dựng nổi giàn lấy đủ yến cống nạp, Lê Định này cam chịu tội chết, không một lời oán thán!

Tạ Đô ngó dải vải quấn đẫm máu trên tay Bằng rồi nhìn vẻ kiên định của Lê Định. Sợ ép quá mất mối cống nạp phải gánh tội với quan Cai bạ, gã quan tuần chột dạ, gằn từng tiếng qua kẽ răng — Được! Lê Định, nhớ lấy lời ngươi! Đúng ba mươi ngày nữa bản chức sẽ quay lại. Thiếu một sợi mây, hụt một cân yến cống nạp, ta sẽ dỡ sạch mái nhà này, gông cổ cả họ nhà ngươi tống giam!

Dứt lời, Tạ Đô hầm hầm phất tay áo, dẫn lũ lính tuần quay trở lại thuyền nhổ neo rời bến.

Bóng thuyền tuần vừa khuất sau mũi đá, Bãi Làng như trút được gánh nặng nghìn cân. Ngay buổi xế chiều hôm ấy, Lê Định cùng chú Bảy Sậy mở lẫm chứa, khiêng những bó mây đực già đanh tích trữ từ mùa trước xuống bến. Mây đực thân tròn lẳn, gai góc sần sùi, thớ thịt vàng sẫm như sừng trâu mộng.

Bằng cùng cha chèo thuyền nan chở bè mây đực hướng về Bãi Hương. Nơi đây nép mình sau dãy núi đá sừng sững, có lạch nước sâu kín gió, nước biển quanh năm trong vắt nhìn thấu tận đáy cát. Đây chính là cái nôi tôi luyện mây trời thành then chốt giữ giàn leo vách.

Chú Bảy Sậy cùng thợ bạn dùng dây gai chằng những tảng đá hộc nặng trịch vào bốn góc bè mây.

— Bằng ơi, ghì dây nghen con! — Lê Định hô lớn, hai bắp tay cuồn cuộn gân guốc ghì chặt đầu sào.

— Dạ cha, thả đá ghì bè sát đáy lạch, đón trọn con nước rong! — Bằng đáp, ánh mắt rực sáng.

“Ùm... ùm!”

Những tảng đá hộc lao xuống làn nước biếc, kéo theo chiếc bè mây đực khổng lồ từ từ chìm xuống. Nước biển tràn qua từng kẽ mây, bọt khí nổi lên sùng sục.

Bằng tì ngực vào mạn thuyền nan, dõi theo mảng bè gỗ đá từ từ chìm khuất dưới làn nước biếc. Dưới đáy lạch sâu, dòng nước mặn sẽ kiên nhẫn gột rửa chất ngọt, se chặt từng thớ sợi, biến chúng thành những sợi dây dẻo dai khôn cùng.

Cơn đau buốt từ hai bàn tay bỗng chốc dịu lại giữa làn gió chiều Bãi Hương. Nhưng lồng ngực Bằng vẫn đập từng nhịp dồn dập.

Nhìn bè mây chìm dần vào lòng biển xanh thẳm, Bằng biết ba mươi ngày tới sẽ là cuộc chạy đua nghẹt thở với thời gian để rèn nên bộ chốt nêm xoay chuyển sinh mệnh xóm đảo.

Bạn thích truyện này?

Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!

Hãy là người đầu tiên để lại đánh giá cho tác phẩm này.