Chương 3: Lưỡi Rìu Phơi Lõi Mục
Lưỡi rìu thép nặng trịch giáng xuống, chém ngọt sớt vào thân gióng mây rừng to nhất nằm trên mặt cát.
Không hề có tiếng “chát” đanh gọn của thớ mây già chịu lực, cũng chẳng có chút sức bật dẻo dai nào dội ngược lại cổ tay. Thay vào đó chỉ là một tiếng “bục” trầm đục, xốp xộp như nhát chém phập vào thân cây chuối rữa ngâm bùn.
Thân mây to bằng bắp tay người lớn đứt lìa làm đôi.
Lớp vỏ ngoài láng bóng vỡ toác ra từng mảng vụn, để lộ phần ruột bên trong trắng bệch, mủn nát rã rời. Từng vụn xơ mục bay lả tả xuống nền cát ướt hệt như mùn cưa gỗ mục. Cùng lúc đó, một luồng mùi ẩm mốc nồng nặc, chua lợ và tanh ngòm của nước lũ ứ đọng bốc thốc lên, xộc thẳng vào mũi mọi người, át sạch mùi dầu bóng khét lẹt vừa quét vội bên ngoài.
Bằng buông lỏng hai tay, cán rìu gỗ mun rơi bịch xuống chân. Lồng ngực cậu phập phồng sau nhát chém dốc cạn sức lực tuổi mười ba, nhưng nơi đáy mắt, ngọn lửa uất nghẹn dồn nén suốt hai kiếp người đang bùng cháy dữ dội.
Cậu quỳ một gối xuống cát, vốc lấy một nắm ruột mây vụn nát giơ cao lên trước mặt phường thợ, cất giọng đanh thép — Chú Bảy, các chú bác nhìn cho kỹ! Mây đực người Thượng thung lũng đá đốn về đây sao? Ruột mủn như bã mía ngâm bùn, thớ thịt không còn một chút gân dẻo! Mớ mây này đem bện giàn leo lên vách Hang Hạc, gió chướng giật một cơn là đứt lìa từng đoạn, bao nhiêu mạng người rơi xuống vực sâu cho cá rỉa!
Không gian trên bãi cát Bãi Làng bỗng chốc lặng ngắt như tờ, chỉ còn tiếng sóng biển gầm gào vỗ bờ đá.
Lê Định chết lặng. Ông chậm rãi ngồi thụp xuống bên cạnh con trai, bàn tay gân guốc nhặt lấy một mẩu gióng mây vừa bị chém đứt. Ngón tay cái dính vệt mực mài chưa ráo của người thợ cả khẽ bóp nhẹ.
“Rắc!”
Đoạn mây vỡ vụn thành đống bột trắng xơ xác ngay trong lòng bàn tay sắt đá của ông. Gương mặt dãi dầu sóng gió của Lê Định đanh lại, từng thớ thịt trên gò má giật giật. Nếu ban nãy ông điểm chỉ vào cuốn sổ bộ kia, thì chính ngón tay này đã ký giấy nhận án tử cho toàn bộ anh em phường thợ!
— Trời đất quỷ thần ơi! — Chú Bảy Sậy trừng trừng đôi mắt đỏ ngầu, gầm lên như cọp dữ.
Cơn bàng hoàng vụt biến thành ngọn lửa lôi đình. Người thợ phó đu dây lao vút tới, một bàn tay gầy guộc nhưng cứng như gọng kìm chộp thẳng lấy cổ áo lụa của Mã Triệu Vinh, nhấc bổng gã lái buôn lên khỏi mặt cát. Chiếc quạt giấy trên tay Mã Thầu rơi tọt xuống nước, cuốn sổ bộ văng ra xa lấm lem bùn ướt.
— Thằng lái gian táng tận lương tâm! — Chú Bảy Sậy nghiến răng ken két, gí sát mặt vào gã lái buôn mà thét, — Mày cầm năm mươi quan tiền kẽm của anh em tao, rồi chở đống rác mục trôi sông này ra đảo định chôn sống hết phường thợ hả? Mày muốn ăn nợ máu của dân Cù Lao Chàm này sao?
Đám thợ bạn phía sau cũng sục sôi nộ khí, tay lăm lăm đòn xóc, dầm bơi xuồng vây kín lấy năm chiếc thuyền nan chở mây. Tiếng chửi bới, tiếng nghiến răng uất hận vang dội cả một góc bến — Đánh chết mẹ nó đi! Quân buôn gian giết người không dao!
— Đòi lại tiền cọc! Bắt gã bồi thường chuyến đi cho anh em!
Mã Triệu Vinh sợ đến mức mặt cắt không còn giọt máu, hai chân buông thõng run lẩy bẩy, chiếc nhẫn ngọc cẩm thạch trên ngón tay va lập cập vào mép đai lưng. Gã hoảng loạn xua tay, cất giọng the thé lắp bắp — Bác Bảy... bác Định tha mạng! Oan... oan cho tiểu thương này quá! Mây này... mây này tôi giao tiền cho bọn đầu nậu gom hàng trên thượng nguồn sông Vu Gia. Chúng nó bảo mây đực thượng hạng, quét dầu dưỡng rồi chở thẳng xuống cửa Đại... Tôi đâu có ngờ lũ Thượng trên nguồn dám tráo mây lũ mục nát để gạt tôi! Tôi cũng là kẻ bị lừa mà các bác ơi!
— Lừa cái mả mẹ mày! — Chú Bảy vung tay tát một cú trời giáng vào mặt gã: — Mày ngửi mùi dầu bóng khét lẹt thế này mà bảo không biết? Mày định lừa ai hả thằng mặt thớt?
Giữa lúc bãi cát hỗn loạn sắp biến thành một trận đòn hội đồng, từ ngoài lạch biển bỗng rộ lên ba hồi tù và rúc dài chói tai.
“U... u... u...”
Tiếng tù và xé toạc màn gió chướng. Một chiếc thuyền tuần mũi nhọn hoắt, sơn màu đỏ sẫm lướt băng băng trên đầu ngọn sóng, rẽ nước lao thẳng vào vụng Bãi Làng. Mái chèo nhịp nhàng đập nước rào rào, năm tên lính tuần đinh mình mặc áo nẹp gai, tay lăm lăm câu liêm và giáo dài đứng dàn hàng dọc hai bên mạn.Trên mũi thuyền, một bóng người đứng sừng sững, tay phe phẩy chiếc quạt lông ngà. Đó chính là Cai đội Tuần hải Tạ Đô.
Thuyền vừa cắm mũi vào bãi cát ướt, hai tên lính đã nhảy ào xuống nước ghìm dây neo. Tạ Đô thong thả bước xuống tấm ván gỗ bắc lên bờ cát. Đôi mắt ti hí dưới đôi lông mày thưa quét một lượt khắp bãi biển đang nhốn nháo, chiếc áo chẽn lụa xanh sờn mép bay phần phật trong gió biển.
— Ồn ào cái chi rứa? — Giọng Tạ Đô cất lên the thé, lạnh tanh như mũi dao cạo, — Phường thợ các ngươi muốn làm loạn ở đất chúa hay sao mà tụ tập đao búa nơi cửa bến?
Uy thế của quan sai lập tức khiến đám đông thợ bạn chùng xuống. Chú Bảy Sậy dù ruột gan đang sôi sục cũng đành hậm hực buông tay khỏi cổ áo Mã Thầu. Gã lái buôn ngã nhào xuống cát, lồm cồm bò tới chân Tạ Đô như vớ được cọc rơm cứu mạng, mếu máo kêu van — Thầy cai... thầy cai cứu tôi với! Đám thợ này vô cớ hành hung tiểu thương...
Tạ Đô chẳng thèm liếc nhìn gã lái buôn, mũi chân gạt phắt cánh tay đang bấu víu của Mã Thầu ra một bên. Ánh mắt gã đảo qua đống mây rừng vừa bị chém đứt đôi đang phơi lõi mục bở bục trên cát, rồi dừng lại trên gương mặt sạm đen của người thợ cả.
Lê Định bước lên phía trước một bước, chắp hai tay lại, cúi đầu cung kính nhưng giọng nói trầm đục vẫn giữ trọn nét cương trực — Bẩm thầy cai, thảo dân không dám làm loạn. Chỉ vì lái buôn Mã Thầu mang mây lũ mục rỗng ngụy trang dầu bóng đem lừa phường thợ. Mây này ruột đã rữa nát, không thể dùng bện giàn trèo vách. Kính xin quan bác phân xử, buộc gã trả lại năm mươi quan tiền cọc, cho phường thợ xin hoãn lại nửa tháng để ngược nguồn tìm mối mây già khác về dựng giàn!
Tạ Đô khẽ nhếch mép, chiếc quạt lông ngà gõ nhẹ từng nhịp đều đặn lên lòng bàn tay trái — Hoãn nửa tháng?
Gã cười khẩy một tiếng, thanh âm sắc lẻm làm rợn tóc gáy — Lê Định à Lê Định, ngươi làm thợ cả bao nhiêu năm ở đất cù lao này rồi mà ăn nói hồ đồ như con trẻ rứa? Lệnh của quan Cai bạ và dinh Trấn thủ truyền xuống đã rõ mười mươi: đúng kỳ thuyền cống tháng sau, đảo Cù Lao Chàm phải nộp đủ một trăm hai mươi cân yến sào thượng phẩm chuyển về kinh đô Phú Xuân dâng lên phủ chúa. Chậm trễ một ngày, lính áp giải gông cổ cả phường thợ. Thiếu hụt một lạng, giam hết thuyền bè, phạt trượng thợ cả! Ngươi xin hoãn, ai gánh cái đầu cho bản chức trước mặt quan trên?
— Nhưng thưa thầy cai, — Chú Bảy Sậy không kìm được uất ức, chỉ tay vào bó mây đứt đôi, — Mây nát thế này thì leo trèo bằng cách nào? Lao mình xuống vực thì lấy đâu ra người mà hái yến nộp cống?
— Chuyện mây tre là việc riêng giữa các ngươi với lái buôn, bản chức không cần biết! — Tạ Đô quắc mắt, quét ánh nhìn sắc lạnh về phía chú Bảy khiến người thợ phó nghẹn lời, — Bản chức chỉ nhìn vào hạn ngạch cống phẩm. Thiếu mây mới thì chắp vá mây cũ mà dùng! Năm ngoái các ngươi còn chốt sắt, dây thừng dỡ từ giàn trước cất trong kho đó thôi. Bổ sung giàn cũ ra khơi đúng hẹn! Kẻ nào dám cản trở việc quan, bản chức cho gông cổ tống ngục ngay tại chỗ!
Từng lời tàn nhẫn của tên cai đội như những nhát búa giáng thẳng vào tâm can phường thợ. Không gian chìm vào bầu không khí u uất, ngột ngạt đến nghẹt thở.
Bằng đứng nép bên cạnh cha, hai bàn tay nắm chặt đến mức móng tay bấm sâu vào da thịt. Lời đe nẹt lạnh lùng của Tạ Đô giống hệt như những gì cậu từng nghe bốn mươi năm về trước. Kiếp trước, cũng chính vì sức ép tàn độc này mà cha cậu phải nhắm mắt chắp vá mớ dây mây cũ mục cùng chốt sắt gỉ sét mang ra vách Hang Hạc, để rồi tai họa ập xuống, cướp đi tính mạng bao người và bẻ gãy cuộc đời cậu.
Tạ Đô phất mạnh tay áo lụa, quay ngoắt người bước lên ván thuyền — Nhổ neo! Nhớ lấy lời ta, ba ngày nữa thuyền tuần lại ghé. Nếu chưa thấy giàn dựng ngoài gành, liệu hồn các ngươi đó!
Chiếc thuyền tuần lại rẽ sóng lướt đi, bỏ lại sau lưng làn bọt nước trắng xóa cùng đám bụi cát mịt mù. Lái buôn Mã Thầu cũng thừa dịp lóp ngóp bò lên thuyền nan của mình, vội vã hô hào phu chèo tháo chạy thục mạng ra xa.
Bãi cát Bãi Làng chỉ còn lại những người thợ đứng chôn chân trong nắng gắt. Gánh nặng sinh tử của cả xóm đảo và mạng sống của anh em thợ bạn lại một lần nữa đè trĩu lên đôi vai dãi dầu sóng gió của Lê Định.
Người thợ cả đứng sững như một tảng đá ngầm giữa sóng lốc. Ông siết chặt nắm tay đến trắng bệch các khớp ngón, ánh mắt đăm đăm nhìn theo bóng chiếc thuyền quan đang xa dần nơi chân sóng.
Rồi chầm chậm, Lê Định cúi đầu xuống.
Ông nhìn sâu vào đôi mắt sáng kiên nghị, thâm trầm khác thường của đứa con trai mười ba tuổi đang đứng cạnh mình. Giữa tiếng gió biển rít qua rặng bàng biển, người thợ cả buông một tiếng thở dài nặng trịch.
Bạn thích truyện này?
Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!
