Chương 10: Kéo Thuyền Nan Thử Sóng Lừng
Mũi thuyền tuần sơn đỏ sẫm húc mạnh vào doi cát Bãi Hương, bọt nước bắn tung tóe. Năm tên lính tuần đinh lăm lăm câu liêm nhảy ào xuống nước, dàn hàng mở đường cho Cai đội Tạ Đô bước lên bờ. Vạt áo chẽn lụa xanh phần phật bay trong gió sớm, mặt gã hằm hằm sát khí, chòm ria mép tỉa nhọn giật từng hồi. Cuốn sổ bộ bọc da trên tay gã đập mạnh vào lòng bàn tay kêu chan chát.
Lê Định đứng chắn phía trước giàn mây, hai chân sừng sững tựa gốc bàng cổ thụ. Ông chắp tay, cất giọng trầm tĩnh — Thưa thầy cai, ba mươi ngày trước thầy đã chuẩn định cho phường thợ ngâm mây đực trọn một con nước để làm giàn mới. Nay con nước vừa cạn, gióng mây vừa vớt khỏi vạc dầu rái sáng nay. Giàn vừa thành hình, chúng tôi đang chuẩn bị giong thuyền ra Hang Hạc thu tổ nộp quan.
Tạ Đô cười khẩy the thé, mắt ti hí quét qua giàn mây nâu mật mía rồi gằn giọng — Bịp bợm! Đến kỳ thuyền cống thì phải có yến sào đóng hòm! Đàn chim đã về Hang Hạc làm tổ nửa tuần trăng trước, vậy mà các ngươi còn lần lữa? Một trăm hai mươi cân yến thượng phẩm đâu? Không có nộp sổ bộ, bản chức lập tức trói gông thợ cả, tịch thu thuyền bè áp giải về dinh quan Cai bạ chịu tội!
Đám lính tuần xốc câu liêm chĩa thẳng về phía phường thợ, tiếng tháo gông gỗ va nhau lách cách rợn người. Chú Bảy Sậy cùng thợ bạn bừng bừng phẫn nộ, nhưng bị Lê Định đưa cánh tay rắn như sắt nguội cản lại.
Bằng bước lên nửa bước bên cạnh cha. Ánh mắt cậu bé mười ba tuổi trong veo, rực sáng vẻ kiên định của kẻ đã thấu suốt bốn mươi năm dâu bể kiếp trước — Thưa quan bác, thảo dân xin được thưa một lời.
Tạ Đô liếc xéo Bằng, khóe môi trễ xuống khinh khỉnh — Thằng nhãi miệng còn hôi sữa, chỗ quan nha làm việc há đến lượt ngươi xía vào?
— Thưa thầy cai, chim yến dẫu làm tổ sớm nhưng dãi non chưa đặc. Cưỡng ép trèo giàn cũ chốt sắt, chẳng những vách nứt làm thợ rơi gãy xương, mà yến thu về chỉ là yến vụn lẫn bùn rác. Dâng yến ấy về kinh đô Phú Xuân, quan trên ắt sẽ quở phạt thầy cai tội dối trên!
Tạ Đô khựng lại, chòm ria nhọn khẽ rung lên. Bằng dõng dạc nói tiếp — Phường thợ ngâm mây luộc dầu, đẽo nêm kép gỗ nghiến là để vách không rạn, đợi tổ yến già đẫm sương trăng thành yến quang thượng hạng dâng triều đình. Nếu thầy cai nghi ngại ngón nghề mới, xin mời quan bác chứng kiến một trận thử sức kéo ngay tại cửa lạch này!
— Ngươi định giở trò gì? — Tạ Đô nhíu mày.
— Chiếc thuyền nan chở đá kia nặng hơn ngàn cân. Chúng con sẽ dùng một sợi mây luộc dầu rái nêm vào ngàm đá nứt bằng cặp chốt gỗ nghiến, rồi thả thuyền ra luồng sóng lừng. Nếu mây đứt hay chốt bung, phường thợ cam chịu tra tay vào gông! Còn nếu nêm giữ chặt thuyền đá giữa sóng dữ, xin thầy cai cho phép chúng con dong buồm ra Hang Hạc!
Dân làng kéo đến chật ních mé rạn, nín thở nhìn sang thợ cả. Thấy ánh mắt kiên định của con trai, Lê Định quay sang Tạ Đô, sang sảng cất lời — Thảo dân xin lấy tính mạng và danh dự thợ cả Bãi Làng ra bảo đảm theo lời cháu nó! Xin thầy cai chuẩn y!
Nhìn chiếc thuyền nan đầy đá hộc và ghềnh đá vôi xám xịt lỗ chỗ vết nứt ngoài mũi lạch, lại thấy sóng lừng đang chồm lên cuồn cuộn, Tạ Đô cười khẩy:— Được! Bản chức xem cọng mây với mấy mẩu gỗ chịu được mấy nhịp sóng! Lính đâu, lui ra bờ trông chừng, hễ bung chốt thì khóa gông cả lũ!
Chú Bảy Sậy cùng thợ bạn khiêng cuộn dây mây đực mười sáu sải vừa luộc dầu rái ra ghềnh đá. Sợi mây tròn lẳn, bóng nhẫy sắc nâu mật mía, mát rượi và đanh chắc như gân bò rừng.
Bằng trèo lên mỏm ghềnh đá vôi dốc đứng, nơi có kẽ nứt phong hóa sâu hoắm — đúng loại đá từng làm bật tung cọc sắt kiếp trước. Lê Định đặt chiếc nêm cái gỗ nghiến xẻ rãnh lòng máng vát xiên miệng kẽ nứt. Bằng cầm vồ gỗ mun giáng xuống ba nhát dứt khoát: “Cốp! Cốp! Cốp!”. Rãnh nêm cái lọt thỏm vào kẽ đá, ôm khít bờ đá phong hóa như mọc rễ.
Bằng luồn đầu sợi mây qua vòng mắt nêm, đặt chiếc nêm đực gỗ nghiến vát ngược chêm vào lòng máng nêm cái, khóa chặt mối dây — Đã khóa mộng nêm! Chú Hai Rái, chú Bảy! Móc dây vào mũi thuyền, đẩy thuyền ra lạch!
Dưới mé nước, chú Hai Rái cùng thợ bạn ghì đòn bẩy. Chiếc thuyền nan chở đá hộc nặng trĩu chìm sâu gần mép nước, đầu dây mây thắt gút kép chắc nịch vào cọc neo kiền kiền nơi mũi thuyền. Sau cú hích dứt khoát, chiếc thuyền nan ngàn cân trôi tuột xuống dòng nước sâu, bị hải lưu kéo phăng ra cửa lạch.
Sóng lừng ngoài khơi bạc đầu chồm tới, cuốn theo sức nặng ngàn trùng ập thẳng vào thân thuyền. Con thuyền nan bị sóng nhấc bổng lên cao rồi quăng quật sang một bên, kéo giật sợi mây mười sáu sải căng phăng phắc.
Tiếng thớ mây và ngàm nêm miết vào nhau rít lên kèn kẹt. Sợi mây dầu rái nâu mật mía căng tròn như dây đàn sắt, thẳng tắp từ mỏm ghềnh đá lao xuống biển sâu. Nước biển bắn tung tóe quanh thân mây, nhưng lớp dầu rái bóng lộn trượt hết bọt sóng, không cho giọt nước mặn nào ngấm vào ruột.
Sóng dữ dập xuống ba nhịp liên tiếp, quăng quật chiếc thuyền nan như muốn xé toạc mọi mối nối. Sức nặng ngàn cân đá cộng hưởng sức giằng của sóng dồn trọn vào điểm neo trên vách đá. Tạ Đô trợn trừng hai mắt, chồm người chờ đợi tiếng nổ toác của vách đá hay sợi mây đứt phựt.
Thế nhưng, điều kỳ diệu đã hiện ra trước mắt trăm người. Dưới sức kéo ngàn cân, chiếc nêm đực càng bị kéo ghì thì càng lún sâu vào rãnh lòng máng của nêm cái. Hai thân nêm gỗ nghiến ép chặt lấy nhau, bặm cứng kẽ đá nứt nẻ mà không hề xê xích nửa tấc! Bề mặt đá vôi không hề bật ra một hạt bụi dăm, bởi thế nêm kép đã phân tán sức giằng dọc thớ đá, biến kẽ nứt thành điểm tựa khóa chết mối dây.
Sợi mây dẻo dai uốn mình nương theo từng nhịp sóng giật rồi đàn hồi ghì chặt con thuyền lại. Một đợt sóng, hai đợt sóng, rồi đợt sóng thứ năm gầm gừ rút lui ra khơi. Chiếc thuyền nan chở ngàn cân đá vẫn đứng sững giữa dòng nước xiết, mối nêm gỗ nghiến trên vách ghềnh vẫn trơ trơ như thạch bàn!
— Đứng vững rồi! Chốt nêm không suy suyển! — Tiếng chú Bảy Sậy hét lên phá tan sự tĩnh lặng nghẹt thở.
— Giàn mây giữ được thuyền đá ngàn cân rồi bà con ơi!
Tiếng hò reo bùng nổ khắp bờ cát Bãi Hương. Dân làng ôm chầm lấy nhau mừng rỡ, ánh mắt nhìn cậu bé mười ba tuổi Lê Hải Bằng chan chứa niềm kính phục.
Cai đội Tạ Đô đứng chôn chân trên bờ cát, mặt cắt không còn giọt máu, chòm ria mép rũ xuống thảm hại. Đám lính tuần đinh buông lỏng câu liêm, đưa mắt nhìn nhau sững sờ. Mọi mưu toan cưỡng chế, bắt bớ phường thợ tan biến như bọt sóng đầu ghềnh.
Giữa muôn ngàn tiếng reo mừng, Thợ cả Lê Định hiên ngang bước tới trước mặt viên quan tuần. Đôi vai rộng như cánh phản của người cha in bóng lẫm liệt trên nền trời rực đỏ.
Ông nâng cao cuộn dây mây nêm kép đanh chắc óng ánh sắc nâu mật mía trong tay, cất giọng sang sảng át cả tiếng triều dâng — Bẩm thầy cai! Giàn mây nêm kép của phường thợ Bãi Làng đã luyện thành thép nguội! Giờ lành đã điểm, anh em chúng tôi xin phép dong buồm, tiến thẳng ra vách tử thần Hang Hạc!
Bạn thích truyện này?
Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!
