Chương 5: Lời Hẹn Mười Lăm Ngày
Lưỡi cuốc sắt sáng loáng trong tay Quách Bá Khiêm chém mạnh xuống một nhát sát mép chân cụ Tiêu, cắm phập vào lớp đất nhão làm bùn sét bắn tung tóe lên gấu áo chàm. Gã rể giàu sang thở hồng hộc, cánh tay cầm tờ đơn phết dầu run lên bần bật, ánh mắt vằn tia máu chực bổ tiếp nhát thứ hai xuống nấm mồ đất đỏ.
Trần Thiềm hét lên một tiếng, lao mình chắn ngang trước mặt thầy, hai nắm đấm siết chặt — Ngươi dám động đến cụ xem!
Cụ Tiêu khẽ đặt bàn tay gầy guộc lên vai Thiềm, nhẹ nhàng kéo cậu học trò lùi lại nửa bước. Đối mặt với mũi cuốc hung hãn và ánh đuốc chập chờn của lũ gia đinh, bậc kỳ lão trăm hai mươi lăm tuổi vẫn đứng sừng sững giữa màn mưa gió buốt giá. Chòm râu bạc của cụ phơ phất, đôi mắt nâu phẳng lặng như mặt nước giếng khơi, toát ra vẻ uy nghiêm khiến Quách Bá Khiêm bất giác chùn tay, mũi cuốc khẽ hạ xuống nửa tấc.
Cụ Tiêu cất giọng, tiếng nói không cao nhưng trầm ấm, đanh thép, xuyên qua tiếng mưa ràn rạt rót thẳng vào tai từng người dân đang hoang mang — Chú mày hỏi lão lấy cái gì để bảo đảm ư? Cả cuộc đời một trăm hai mươi lăm năm của lão Tiêu này ở đất Cổ Thiềm, ăn hạt gạo bãi bồi, uống ngụm nước sông Hạc, dệt từng tấm chiếu lót lưng cho ba bốn thế hệ dân làng nằm xuống khi nhắm mắt xuôi tay. Lão lấy cả danh dự, tính mạng và nghề nghiệp tổ tiên truyền lại để bảo đảm!
Bà con xóm Cồn Cát im phăng phắc. Tiếng thở dồn dập của đám thợ cày, thợ chèo đò lắng xuống, nhường chỗ cho vẻ kính cẩn hướng về bóng dáng người thợ già. Cụ Tiêu nhìn lướt qua những gương mặt chất phác đang tái nhợt vì lạnh và sợ hãi, khẽ gật đầu trấn an rồi quay sang đối diện với Quách Bá Khiêm — Đêm nay gió độc mưa sa, lòng người rối loạn. Nếu bổ cuốc đào xới một nấm mồ trinh bạch chỉ vì nỗi nghi kỵ vô căn cứ, mai này con cháu làng ta biết lấy gì soi rọi đạo nghĩa làm người? Lão xin hẹn trước hội đồng kỳ lão và bà con chòm xóm đúng mười lăm ngày!
Hai chữ "mười lăm ngày" thốt ra rành rọt, tựa như nhát búa gõ vào chuông đồng. Đám đông rộ lên tiếng xôn xao. Quách Bá Khiêm giật thót, quạt xương trong bọc áo the suýt rơi, gã gằn giọng — Lão hẹn mười lăm ngày để làm gì? Để tà ma quấy nhiễu xóm làng thêm mười lăm đêm nữa à?
— Không phải tà ma, mà là u uẩn chưa tan, độc khí chưa thông! — Cụ Tiêu đĩnh đạc đáp, ánh mắt sắc như dao nhìn thấu tận đáy mắt lấm lét của Khiêm — Trong mười lăm ngày tới, lão sẽ cùng cháu Thiềm tìm ra căn nguyên của tiếng rít oan khiên này, giải tỏa tận gốc luồng hơi độc đang đọng dưới đáy huyệt. Nếu sau mười lăm ngày, lão không làm sáng tỏ được mọi lẽ trắng đen, trả lại sự yên bình cho gò Đất Mối, thì trước mặt toàn thể dân làng, lão sẽ tự tay bẻ gãy con thoi dệt cói gia truyền, dập tắt bếp lửa lán dệt, rồi đến trước cửa đình quỳ gối tạ tội với tiên tổ và bà con!
Lời thề bẻ thoi giải nghệ của người thợ già vang lên chấn động cả khúc sông. Với một đời thợ dệt, con thoi là mạng sống, là danh dự ngút trời. Một bác thợ cày đứng tuổi bỗng vứt chiếc nẹp tre xuống đất, bước lên chắn trước mũi cuốc của đám gia đinh, cao giọng:— Cụ Tiêu đã đem cả nghiệp tổ ra thề thốt, thằng Khiêm mày còn muốn gì nữa? Mày ép người quá đáng vừa thôi!
— Phải đấy! Cụ Tiêu thương dân làng như con cháu, cả đời cụ có lừa ai chén cơm ngụm nước bao giờ đâu! — Mấy bà đi chợ sớm cũng đồng thanh la ó — Mười lăm ngày chứ có phải mười lăm năm đâu mà mày cuống lên đòi đào mả vợ? Hay mày có điều gì khuất tất sau lưng?
Tiếng phản đối rộ lên khắp bốn phía, dân làng đồng loạt bước tới quây thành bức tường người che chắn trước nấm mồ. Đám gia đinh họ Quách cầm đuốc run rẩy, lấm lét nhìn nhau rồi lùi lũi dạt về phía sau. Quách Bá Khiêm thấy thế trận đổi chiều, mặt mày biến sắc từ trắng bợt sang tím ngắt. Gã nghiến răng ken két, trừng mắt nhìn cụ Tiêu bằng ánh nhìn hằn học tột độ, nhưng trước sự phẫn nộ của cả xóm làng, gã không dám manh động thêm nửa bước.
— Được… được lắm! — Khiêm giật mạnh lưỡi cuốc khỏi bùn sét, giọng the thé cay độc — Lão già họ Đặng, hãy nhớ lấy lời thề hôm nay! Mười lăm ngày nữa, nếu nấm mồ này còn k** r*n nửa tiếng, bản thiếu gia sẽ đích thân đem búa đến lán đập nát khung cửi của lão! Rút lui!
Hắn vung tay áo the ướt sũng, quay ngoắt người dắt díu đám gia đinh và thầy cúng lủi thủi men theo bờ cỏ rút chạy vào màn đêm mù mịt.
Ánh đuốc lụi dần sau rặng lau sậy bãi bồi. Dân làng nán lại đôi chút thăm hỏi, rồi dưới sự giục giã ân cần của cụ Tiêu, mọi người cũng lục tục ra về để tránh cơn cảm lạnh. Khoảng gò Đất Mối chìm lại vào bóng tối thăm thẳm và tiếng mưa rả rích.
Gió bấc thổi thốc từng cơn rét buốt. Nhìn nấm đất nhão nhoét đang bị dòng nước mưa xói mòn từng mảng, cụ Tiêu quay sang bảo Thiềm — Con chạy ra bờ sông ôm mấy tấm cói thô ta mang theo khi nãy lại đây. Nhanh lên, kẻo nước xói sâu vào kẽ nắp ván thì hỏng hết.
Thiềm vâng dạ, thoăn thoắt chạy đi vác lại bó cói dệt dở còn đượm mùi nắng cũ. Hai thầy trò quỳ gối giữa bùn lầy, cẩn thận trải từng lớp cói dày phủ trùm lên nấm mộ của nàng Mai, dùng những đoạn cọc tre vót nhọn ghim chặt bốn góc mép đất để ngăn dòng nước xối thẳng vào rãnh nứt.
Lúc cụ Tiêu cúi rạp người xuống, dùng hai bàn tay chai sần miết chặt lớp bùn đỏ chèn mép nẹp cói sát kẽ ván thiên, ngón tay cụ bỗng khựng lại.
Trong bóng tối nhờ nhợ của ngọn đèn lồng giấy phết dầu, cụ nhận thấy lớp bùn đất bám quanh rìa kẽ nứt không còn mang sắc đỏ au phù sa như thường lệ. Nó ngả sang một màu đen xỉn nhờn nhợt, lạnh ngắt quánh lại tựa như mỡ trăn thối. Cụ đưa đầu ngón tay dính bùn lên gần mũi, luồng hơi hăng nồng gắt buốt xộc thẳng vào cuống họng, mang theo thứ mùi tỏi nồng nặc đến rợn người.
Cụ Tiêu ghé sát ánh đèn lồng rọi xuống mép cỏ sát vách ván thiên. Dưới ánh sáng vàng vọt le lói, cụ bàng hoàng nhận ra cả một vệt cỏ gà và rau mác mọc quanh mép mộ đều đã héo rũ từ bao giờ, thân lá thâm đen, rễ cây mủn nát bốc mùi thum thủm. Đó tuyệt nhiên không phải do nước mưa hay khí ẩm gò đồi, mà đích thị là dấu vết của thứ khoáng độc tàn ác ngấm từ trong linh cữu rỉ ra ngoài.
Bạn thích truyện này?
Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!
