Chương 23: Đá Hoa Cương định Cõi Bờ

Tiếng hò reo hòa cùng tiếng bước chân rầm rập của đoàn thợ đá kéo Trần Cảnh Nghiệp trở về với thực tại.

Chàng vội bước nhanh tới trước, cùng Nông Văn Pẩu và các tráng đinh người Tày ghé vai đỡ lấy một đầu đòn khiêng bằng gỗ nghiến. Phiến đá hoa cương xanh ngắt nguyên khối nặng nghìn cân, được đục đẽo từ mỏ đá thượng du của đại ngàn, bề mặt chuốt phẳng lì như gương, tỏa ra hơi lạnh tinh khôi của sương sớm biên thùy.

Dưới sự giám sát cẩn trọng của Giám đạc sơn xuyên Phù Khắc Chương và Khâm sai Lê Văn Uyển, toán thợ đá ghìm chặt dây thừng, từ từ hạ phiến đá xuống cạnh hố khai quật. Nơi đáy hố, tảng đá yểm móng thời Thuận Thiên vuông vức bốn thước vẫn nằm sừng sững, đồ án hoa văn mây lửa cùng dòng chữ triện cổ sau hơn sáu mươi năm chôn sâu dưới lòng đất như đang lặng lẽ ngóng đợi sự tiếp nối của hậu thế.

“Cảnh Nghiệp, so quả dọi và kim bàn!” — Cụ Chương chống gậy lim, trầm giọng căn dặn.

“Thưa thầy, con rõ!” — Cảnh Nghiệp kính cẩn đáp lời.

Chàng quỳ một gối xuống gờ đá, bàn tay thoăn thoắt buông quả dọi đồng thau. Dây chỉ mảnh treo quả dọi rủ thẳng tắp, mũi nhọn hướng chuẩn xác vào tâm điểm chữ thập khắc chìm trên tảng yểm móng. Mặt kim bàn hai mươi bốn phương vị chỉ đúng trục Tý – Ngọ, không sai lệch dẫu một phân li.

Toán thợ đá người Kinh và người Tày hiệp lực dùng đòn bẩy và dây chão lớn từ từ dựng đứng phiến hoa cương. Mộng đá được đục đẽo tinh vi ăn khớp hoàn hảo vào lòng khối đá cổ bên dưới, phát ra một tiếng va chạm trầm đục, vững chãi tựa bàn thạch. Trên thân cột mốc hoa cương cao sáu thước, những nét chữ đại tự sắc sảo vừa được thợ khéo hoàn tất tạc khắc: “Hồng Đức nhị thập nhất niên phong cương tiêu thạch”.

Giữa thanh thiên bạch nhật, tiếng reo hò dậy đất của hàng trăm tráng đinh Thất Tuyền, binh sĩ triều đình và dân bản xứ đồng loạt vang lên, chấn động cả thung lũng Phấn Lĩnh.

Khâm sai Lê Văn Uyển bước lên gờ đất cao bên cột mốc mới. Tấm áo bào đỏ thêu hoa văn của bậc đại thần phần phật tung bay trong gió sớm. Ông rút từ tay thị vệ phong chiếu thư gấm vàng, đĩnh đạc cất giọng tuyên đọc “Phụng thiên thừa vận, Hoàng đế chiếu viết: Nay bờ cõi hạt Lạng Sơn đã được nhật quy định chuẩn, mốc cũ Thuận Thiên được khai quật trùng tu. Triều đình chuẩn y thu hồi toàn bộ thung lũng mỏ sa khoáng Phấn Lĩnh vào công khố quốc gia, nghiêm cấm mọi hành vi tư nhân chiếm đoạt, buôn lậu qua biên ải! Lại lệnh cho quân dân sở tại lập tức triệt hạ các lò luyện quặng phi pháp của thương đ**m Vạn Ký; trả tự do cho toàn bộ phu mỏ bị xích xiềng, trích bạc công quỹ cấp phát lộ phí, an trí ruộng vườn để muôn dân an cư lạc nghiệp!”

Tiếng chiêng đồng vang lên dõng dạc. Lời tuyên đọc vừa dứt, hàng trăm phu mỏ đang quỳ dưới chân đồi òa khóc nức nở. Những đôi bàn tay chai sần, rớm máu vì nhiều năm bị bọn cai ngục hành hạ nay đã vĩnh viễn trút bỏ gông xiềng, run rẩy vái lạy về hướng kinh thành Thăng Long. Khói đen từ các lò luyện quặng lậu bị dập tắt hoàn toàn, nhường chỗ cho sắc trời thu trong trẻo.

Cảnh Nghiệp đứng lặng bên tảng mốc hoa cương sừng sững. Gió biên ải lồng lộng thổi qua vạt áo chàm, mang theo hương thơm ngai ngái của cỏ cây và đất ẩm. Lồng ngực chàng phập phồng, sống mũi cay xè khi ngước nhìn từng nét chữ son khắc trên đá xanh.

Chàng quỳ sụp xuống trước chân mốc, hai tay dập đầu sát nền đất lạnh.

Cụ Phù Khắc Chương khẽ bước tới, bàn tay già nua run rẩy đặt lên vai học trò: “Cảnh Nghiệp, con sao thế?”

Cảnh Nghiệp ngẩng đầu lên, trong khóe mắt chàng lấp lánh ngấn lệ nhưng ánh mắt rực sáng niềm kiêu hãnh: “Thưa thầy... thưa Khâm sai đại nhân! Hôm nay, trước cột mốc thiêng liêng của nước nhà, con xin được bộc bạch một điều sâu kín bấy lâu. Tổ phụ của con chính là viên thổ ty họ Trần từng trấn giữ dải biên thùy này năm xưa. Hơn sáu mươi năm trước, khi giặc phương Bắc tràn sang toan xô đổ mốc phong cương thời Thuận Thiên, ông nội con cùng toàn thể gia quyến đã liều chết huyết chiến, lấy máu mình nhuộm đỏ chân mốc đá để giữ vững tấc đất quê hương.”Chàng run run rút từ trong ngực áo ra một tấm phù bài bằng đồng cổ đã sứt góc, dâng lên trước mặt cụ Chương: “Trước lúc lâm chung, cha con trăng trối rằng dù phải đổi bằng cả tính mạng, con cháu họ Trần cũng phải tìm lại cột mốc bị chôn vùi, bảo vệ cõi bờ Đại Việt vẹn toàn. Suốt những năm theo thầy học đạo trắc lượng, con chỉ mong có ngày này. Nay mốc đá tiền nhân đã được phục dựng nghìn thu, lời thề hộ vệ biên cương của dòng tộc con... cuối cùng đã hoàn thành trọn vẹn!”

Cụ Chương xúc động khôn xiết, đôi mắt quắc thước rưng rưng. Cụ đỡ Cảnh Nghiệp đứng dậy, giọng nghẹn ngào mà trầm hùng: “Tốt lắm... Thật xứng đáng là con cháu của bậc trung liệt! Máu xương của tổ tiên con và đạo trắc lượng của non sông đã hòa làm một nơi mảnh đất này.”

Khâm sai Lê Văn Uyển cũng bước tới, nghiêm trang chắp tay bái tạ tấm lòng trung dũng của dòng dõi họ Trần.

Sau khi lễ tạ hoàn tất, Nông Văn Pẩu cùng tráng đinh dọn dẹp một phiến đá phẳng ngay bên cạnh mốc giới, trải rộng cuộn bản thảo Hồng Đức Bản Đồ còn dở dang.

Trên nền lụa đại phong, nét vẽ cũ của Đô ty Lạng Sơn vốn uốn cong dòng sông Kỳ Cùng và bỏ trống mười dặm mỏ quặng vẫn còn đó. Cụ Phù Khắc Chương mở tráp gỗ lim, trân trọng lấy ra ngọn bút lông thỏ cán trúc hoa – ngọn bút cụ đã dùng suốt nửa thế kỷ qua.

Cụ không tự mình đặt bút, mà quay sang trao ngọn bút vào tay Cảnh Nghiệp. “Cảnh Nghiệp, thầy tuổi đã chín mươi, sức cùng lực kiệt. Thuật nhật quy, dây đồng chuẩn khắc và đạo trắc lượng giữ đất, thầy đã trao trọn cho con trên đỉnh Khâu Sầm. Giờ đây, chính tay con hãy nắn thẳng lại dòng sông, định rõ mười dặm cương thổ non sông vào bản đồ triều đình.”

Cảnh Nghiệp cảm nhận sức nặng ngàn cân của ngọn bút lông trong tay. Chàng hít một hơi sâu, chấm ngọn bút vào nghiên mực xạ đen nhánh.

Dưới ánh nắng thu rực rỡ, bàn tay chàng vững vàng lướt trên mặt lụa. Từng đường Câu Cổ, từng số đo bóng nắng ba thước tám phân bốn li thu được từ đài Khâu Sầm hiện lên chuẩn xác. Chàng vẽ lại dòng sông Kỳ Cùng cuồn cuộn chảy thẳng về hướng đông bắc, rồi phóng bút khoanh trọn ba ngọn đồi mỏ sa khoáng Phấn Lĩnh ăn sâu hai mươi lăm dặm về phương bắc, nối liền vào địa hạt châu Thất Tuyền. Tấm bản đồ bừng sáng khí thế non sông gấm vóc toàn vẹn, không khuyết thiếu dẫu một tấc đất.

Cụ Chương nhìn từng nét mực dứt khoát của học trò, khẽ vuốt chòm râu bạc, mỉm cười thanh thản. Y bát của một đời trắc lượng nay đã có người kế tục xứng đáng.

Mặt trời đã lên cao quá ngọn cây dẻ cổ thụ. Khâm sai Lê Văn Uyển cất giọng dõng dạc hạ lệnh: “Toàn quân nhổ trại! Hồi kinh!”

Tiếng tù và rúc lên từng hồi dóng dả. Hơn hai trăm hiệu lực quân bọc giáp chỉnh tề, nỏ lắp tên, gươm tuốt trần áp giải đoàn xe hướng về phương nam.

Đi đầu là hai cỗ xe tù đóng cũi sắt kiên cố. Đặng Hoài Viễn ngồi gục đầu trong cũi, áo xống rách rưới, tóc tai bù xù, đôi mắt vô hồn nhìn tảng đá hoa cương lùi xa dần sau rặng núi. Kế đó, Vạn Hưng Xa bị trói chặt chân tay, run rẩy co ro bên cạnh ba chiếc rương gỗ niêm phong chứa đầy vàng ròng buôn lậu và đống búa tạ phá mốc. Tội phản nghịch cướp đất, buôn lậu mỏ quặng của chúng đã rành rành, chỉ chờ ngày thụ hình trước cổng thành Thăng Long.

Theo sau cỗ xe tù là xe ngựa chở chiếc tráp gỗ bọc đồng, bên trong cất giữ bộ sách Cương Thổ Cổ Triệt cùng tấm Hồng Đức Bản Đồ vừa định hình trọn vẹn. Nông Văn Pẩu cùng năm mươi tráng đinh người Tày cưỡi ngựa tiễn đoàn đến tận cửa ải Chi Lăng, tiếng hô chào tạm biệt vang rền vách đá.

Ngồi bên cạnh cụ Chương trên cỗ xe ngựa êm ái, Cảnh Nghiệp vén rèm nhìn ra ngoài. Đoàn tuần khám rầm rộ vượt qua ải Chi Lăng hiểm trở. Nhìn về phương nam xa xăm, bóng lá cờ Tiết chế thêu kim tuyến phần phật tung bay trong ngọn gió thu lồng lộng, tựa như một dải lụa đỏ giục giã bước chân đoàn người hướng về Điện Kính Thiên. Nơi ấy, Hoàng đế Lê Thánh Tông đang ngày đêm ngóng đợi tấc đất cương thổ toàn vẹn của giang sơn Đại Việt.

Bạn thích truyện này?

Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!

Hãy là người đầu tiên để lại đánh giá cho tác phẩm này.