Chương 18: Tranh Biện Dưới Bóng Nhật Quy

Lê Văn Uyển thu trọn tia nhìn độc địa ấy vào tầm mắt. Là vị quan kinh qua bao chốn phong ba nơi triều đình, từng cầm cân nảy mực chốn Bộ Lại, ngài quá hiểu thần sắc của một kẻ làm phản khi bị dồn vào đường cùng: giảo hoạt, hung hãn và chực chờ liều mạng. Không một thoáng chần chừ, bàn tay rắn rỏi của vị Khâm sai năm mươi lăm tuổi siết chặt lấy vỏ Thượng phương bảo kiếm trên án thư. Tiếng lưỡi thép bén ngót khẽ rít lên khi ngài rút kiếm khỏi bao nửa tấc, ánh kim khí sắc lạnh tỏa ra giữa bầu không khí căng như dây đàn.

“Hiệu lực quân, vào vị trí!” — Uyển trầm giọng hạ lệnh.

Toán cấm vệ quân tinh nhuệ lập tức hạ thấp ngọn giáo dài, bước lên dàn trước án thư, che chắn mạn sườn cho hai thầy trò cụ Phù Khắc Chương. Phía sau, năm mươi tráng đinh người Tày của Nông Văn Pẩu đồng loạt áp sát mép đài, ánh mắt căm hờn khóa chặt lấy ba trăm thiết giáp binh Đô ty đang xao động bên dưới dốc đá. Khí thế áp đảo của quân triều đình cùng thổ binh biên ải khiến Đặng Hoài Viễn giật mình chùn bước, vội rụt bàn tay đang lén lần về phía chuôi đao.

Lê Văn Uyển đứng bật dậy trên đài cao lộng gió. Vạt áo thụng thêu hoa văn kỳ lân của phẩm phục Tả Thị lang Bộ Lại tung bay phần phật theo từng luồng đại phong. Ngài vươn tay cầm lấy bản trắc đạc đồ bằng giấy bản khổ lớn vừa được các họa đồ sinh hoàn tất, nét mực nho đen nhánh còn thơm nồng trên nền giấy trắng.

Ánh mắt Uyển quét qua một lượt từ viên sứ giả Khảo cương ngoại bang, các nha lại Thư ty, cho đến hàng ngũ tướng sĩ Đô ty đang nín thở theo dõi. Ngài giương cao cuộn đồ bản giữa thanh thiên bạch nhật, cất giọng sang sảng tựa chuông đồng “Chư vị tướng sĩ và quan viên hai bên bờ cõi hãy trông cho rõ! Bản trắc đạc đồ này do Giám đạc sơn xuyên Phù Khắc Chương đích thân trắc định, phối hợp cùng quan viên Bộ Hộ và Tư thiên giám thẩm tra ngay trong khắc chính ngọ tiết thu phân. Từng vạch kẻ, từng con số nơi đây đều do càn khôn chứng giám, do bóng nắng nhật quy soi rọi mà thành!”

Ngài giáng ngón tay xuống tâm điểm đồ bản, nơi vệt bóng gậy lim đổ thẳng theo phương chính Bắc “Bóng gậy trắc lượng sáu thước tại đỉnh Khâu Sầm khắc chính ngọ dài đúng ba thước tám phân bốn li! Chiếu theo thuật Câu Cổ, đối chiếu cự ly bốn trăm ba mươi dặm từ kinh thành Thăng Long, đường phong cương của Đại Việt từ đỉnh núi này phải vươn thẳng về phương Bắc trọn vẹn hai mươi lăm dặm, vượt qua sống núi Yên Ngựa rồi mới giáp đất láng giềng! Toàn bộ ba ngọn đồi sa khoáng Phấn Lĩnh cùng dải rừng phía bắc sông Kỳ Cùng từ thuở dựng nước đã là bờ cõi của nước Nam!”

Uyển quay phắt sang phía Đặng Hoài Viễn, giọng đanh thép chấn động cả đỉnh đài “Thế nhưng, cọc đá mà Đô ty Lạng Sơn các ngươi mạo nhận là mốc cương giới lại cắm chơ vơ ở gờ đồi cách đài này vỏn vẹn mười lăm dặm! Nghĩa là lùi sâu vào ruột đất tổ tông đúng mười dặm! Một khoảng đất dài mười dặm, rộng bằng ba ngọn đồi sa khoáng giàu có bậc nhất biên thùy bỗng nhiên biến mất khỏi bản đồ đệ trình lên Thư các kinh thành! Sai số mười dặm rành rành giữa bóng nắng thiên văn và cọc đá gian manh kia, Đô chỉ huy sứ giải thích thế nào trước thánh thượng và muôn dân?”

Lời lẽ phân minh như búa bổ khiến viên sứ giả Khảo cương ngoại bang đứng bên cạnh khẽ rùng mình. Y nhìn sợi đồng quy thằng óng ánh đang căng nối các gờ đá, nhìn đường bóng gậy lim sắc nét in trên mặt đài, rồi nhìn sang bản đồ sai lệch của Đô ty. Viên sứ giả buông tiếng thở dài, giơ hai tay ôm đoản trượng khảm ngà, khom mình cúi đầu thật sâu trước Uyển “Khâm sai đại nhân lời lẽ sáng tỏ như vầng nhật nguyệt. Đạo trắc đạc của Đại Việt lấy quy luật trời đất làm căn bản, cự ly phân minh không thể chối cãi. Bản sứ phụng mệnh tuần cương, chỉ kính trọng lẽ phải và chứng cứ xác thực. Mười dặm sa khoáng Phấn Lĩnh cùng dòng chảy sông Kỳ Cùng thuộc về bờ cõi Đại Việt, bản sứ tâm phục khẩu phục, tuyệt đối không có nửa lời phản bác!”

Thấy viên quan ngoại bang đã hoàn toàn cúi đầu thoái lui, đường lui cuối cùng nhằm mượn oai láng giềng để gây sức ép cũng tan thành mây khói, Đặng Hoài Viễn rơi vào thế cùng lực kiệt. Mặt gã đỏ gay rồi chuyển sang xám ngoét. Thế nhưng, bản tính tham tàn và nỗi khiếp sợ hình luật triều đình đã biến gã thành con thú dữ bị dồn vào chân tường.

Gã nuốt khan một ngụm nước bọt, cố gượng thẳng tấm thân hộ pháp, bước giật lên hai bước. Đôi mắt ti hí vằn đỏ của gã trợn trừng, cất giọng the thế cãi chày cãi cối “Khâm sai đại nhân chớ vội lấy lời lẽ hoa mỹ mà chụp mũ bản quan! Cái gọi là bóng gậy nhật quy, cái gọi là thuật Câu Cổ chẳng qua chỉ là mớ lý thuyết viển vông của một lão già hủ lậu chín mươi tuổi nơi sơn dã! Núi rừng biên ải trùng điệp mây mù, gió thổi nghiêng gậy, mặt trời lúc tỏ lúc mờ, há có thể dựa vào một vệt bóng nắng mong manh trên phiến đá mà cả gan định đoạt mười dặm cương thổ quốc gia?”

Gã vung tay chỉ thẳng xuống chân núi, giọng càng lúc càng trơ trẽn “Biên cương từ cổ chí kim phải lấy vật chứng thực địa làm bằng! Nơi nào có mốc đá cắm sâu vào lòng đất, nơi đó mới là bờ cõi! Cọc đá dưới chân đồi Phấn Lĩnh kia sờ sờ ba năm qua, có dấu triện Đô ty, có nha lại canh giữ! Nay triều đình muốn dời mốc lấn lên mười dặm, muốn kết tội bản quan phản nghịch, thì phải đưa ra được mốc đá phong cương của tiền triều dựng từ thuở khai quốc! Mốc đá cũ đâu? Có đào tung đỉnh Khâu Sầm này lên cũng chẳng tìm thấy một mẩu đá nào ở khoảng cách hai mươi lăm dặm! Không có vật chứng tiền nhân để lại, mọi lời trắc đạc chỉ là trò lừa bịp của lũ giang hồ thuật sĩ!”

Lê Văn Uyển cười lạnh một tiếng, từng bước tiến lại gần mép đài đá. Ánh mắt ngài sắc bén l*t tr*n từng tầng vỏ bọc dối trá của kẻ đối diện.

“Đặng Hoài Viễn! Ngươi tưởng triều đình không biết những mưu mô nhơ bẩn của ngươi sao?” — Uyển cất giọng uy nghiêm, giơ tay ra hiệu.Trần Cảnh Nghiệp lập tức tiến lên, đặt lên mặt án thư một chiếc nẹp sắt gãy có khắc chìm hai chữ “Vạn Ký”, cùng thỏi đồng chì xám xịt mang dấu triện chữ Vạn đúc lậu.

Uyển trỏ tay vào các tang vật, dõng dạc vạch trần “Ngươi cấu kết cùng đại thương gia Vạn Hưng Xa, ngấm ngầm xẻ thịt ba ngọn đồi sa khoáng Phấn Lĩnh, đày ải hàng trăm phu mỏ bản địa khai thác quặng ngày đêm rồi tuồn lậu qua biên ải để vơ vét vàng bạc! Để che giấu mỏ quặng, ngươi bẻ cong dòng sông Kỳ Cùng lệch về tây nam tới ba mươi tầm nước trên bản vẽ, sai nha lại đục bỏ chữ ký của các chánh thổ ty trong sổ bộ địa bạ! Ngươi còn cho người cưa cầu treo dốc Bắc Lãng, xua thích khách đốt phá trạm dịch Chi Lăng hòng tiêu hủy địa đồ và sát hại đoàn tuần khám! Vạn Hưng Xa cùng bè lũ áo dạ đen mang theo xà beng, giũa sắt định phá đài đá Khâu Sầm đã bị bắt sống đêm qua, hiện đang bị giam giữ dưới chân núi! Tội ác tày đình ấy, chứng cứ rành rành như núi, ngươi còn dám chối quanh sao?”

Bị vạch trần từng chân tơ kẽ tóc, trán Đặng Hoài Viễn vã mồ hôi như tắm, nhưng nơi khóe miệng gã bỗng giật giật thành một nụ cười man dại. Gã thừa biết đám người Vạn Hưng Xa đã sa lưới, nhưng trong thâm tâm, gã vẫn tin chắc vào một bí mật sống còn: chính mắt gã ba năm trước đã đốc thúc toán thợ đá đục nát tan tành cột mốc Thuận Thiên trên sườn núi Yên Ngựa, rồi xô toàn bộ mảnh vụn xuống đáy vực sâu thăm thẳm.

Gã gằn giọng thách thức “Mấy thỏi đồng thau, dăm ba lời khai của phường buôn bán chẳng đủ định tội một Đô chỉ huy sứ mang hàm tam phẩm! Bản quan nhắc lại, đất đai biên thùy phải nói bằng cột mốc vật thể! Các người bảo cọc đá ở mười lăm dặm là giả mạo, vậy hãy chỉ ra cột mốc Thuận Thiên sờ sờ ở cự ly hai mươi lăm dặm đi! Nếu không tìm thấy cột mốc bằng đá xanh của vua Lê Thái Tổ lưu lại, thì bản quan dẫu chết cũng quyết không nhận cái tội dời mốc bán đất!”

Toán binh lính Đô ty phía sau bắt đầu xôn xao. Lời thách thức trơ tráo của Đặng Hoài Viễn đánh trúng vào điểm gút mắc nhất: nếu không có cột mốc thực địa của tiền triều thì cuộc tranh biện biên cương vẫn còn một kẽ hở để kẻ gian bám víu giãy giụa.

Giữa lúc không khí ngột ngạt bao trùm đỉnh núi, cụ Phù Khắc Chương khẽ mỉm cười.

Lê Văn Uyển dõi mắt nhìn theo vị lão sư áo vải chàm. Dẫu tuổi đã chín mươi, sau một ngày đêm dãi gió dầm sương nơi đỉnh cao buốt giá, ánh mắt cụ Chương vẫn sáng trong, quắc thước lạ thường. Cụ thong thả bước đến bên chiếc rương gỗ lim đặt cạnh án thư, tra chìa khóa đồng mở nắp.

Từ trong tầng tráp gỗ hương thơm ngát, cụ cẩn trọng nâng ra một cuốn sách lụa bìa đã ố vàng theo năm tháng, mép giấy sờn gãy những dấu vết của gần bảy mươi năm gìn giữ. Trên trang bìa lụa thêu bốn chữ triện thếp vàng cổ kính: “Cương Thổ Cổ Triệt”.

Cụ Chương quay sang cúi đầu chào Uyển, rồi đứng thẳng lưng giữa đài đá, cất giọng trầm hùng vang vọng khắp bốn bề thung lũng “Đặng Hoài Viễn, ngươi tưởng rằng dùng búa tạ đục phá phần thân mốc đá trên mặt đất, xô mảnh vụn xuống vực sâu là có thể xóa sạch dấu tích ngàn năm của tiên liệt hay sao? Ngươi đã đánh giá quá thấp sự cẩn trọng của các bậc tiền nhân thời dựng nước!”

Toàn thể quan quân trên đài nín lặng, dồn mọi sự chú ý vào từng lời của cụ già áo vải.

“Năm Thuận Thiên nguyên niên, sau ngày đại thắng đuổi giặc Minh, Đức Thái Tổ Cao Hoàng đế thân chinh định rõ bờ cõi, hạ lệnh cho phụ thân lão phu cùng các bậc trắc đạc sư dựng mốc phong cương nơi ải Bắc. Tiên liệt thừa hiểu rằng trải qua dâu bể phong ba, mốc đá trên mặt đất có thể bị mưa nguồn cuốn trôi hoặc bị kẻ gian tà đục phá. Do đó, dưới mỗi cột mốc phong cương bằng đá xanh, tổ tiên ta đều cho chôn sâu ba thước đất một tảng đá yểm móng nguyên khối!”

Cụ Chương lật mở trang sách lụa ố vàng, để lộ đồ án họa phương đồ cùng nét chu sa đỏ thắm vẽ chi tiết cấu trúc lòng đất “Tảng đá yểm móng ấy nặng ngàn cân, vuông vức bốn thước, bên trên chạm khắc hoa văn mây lửa uy nghiêm của triều Lê sơ, ở giữa khắc sâu ngự triện và đồ án chữ thập phân định bốn phương. Thân mốc bên trên có thể gãy đổ, nhưng tảng đá yểm móng chôn sâu ba thước trong lòng đất mẹ thì vĩnh viễn trường tồn cùng sông núi!”

Lời nói như sấm sét giáng thẳng xuống đỉnh đầu Đặng Hoài Viễn. Mặt tên Đô sứ cắt không còn giọt máu, đôi chân run rẩy lảo đảo như sắp ngã quỵ.

Cụ Phù Khắc Chương khép lại cuốn cổ thư, tay phải nắm chặt cán gậy trắc lượng lim già, vung lên chỉ thẳng về phía vách đá rêu phong sừng sững nơi chân đồi Phấn Lĩnh. Ánh mắt cụ rực cháy hào khí non sông, giọng đanh thép tựa chuông đồng vang rền giữa trời thu phân “Dưới chân vách đá rêu phong nơi giao cắt của hai khe suối cổ phía bắc đồi Phấn Lĩnh, đúng cự ly hai mươi lăm dặm theo đường bóng nhật quy! Giờ đây, trước mặt Khâm sai đại thần, sứ giả láng giềng và ba quân tướng sĩ, lão phu xin đem cả tính mạng chín mươi năm ra đánh cuộc! Nếu hạ sơn đào sâu ba thước đất tại đúng điểm chỉ định mà không tìm thấy tảng đá yểm móng Thuận Thiên của tiên triều, lão già này xin nộp đầu chịu tội chém trước ba quân!”

Bạn thích truyện này?

Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!

Hãy là người đầu tiên để lại đánh giá cho tác phẩm này.