Chương 16: Giăng Dây định Phương Vị
Gió núi Khâu Sầm rít qua khe đá, cuốn theo hơi lạnh cắt da của buổi sớm thu phân. Ngồi đĩnh đạc trên phiến đá phẳng giữa đỉnh đài, cụ Phù Khắc Chương khẽ siết lại vạt áo cừu lót lông thú, ung dung nghênh đón ánh mắt dò xét từ đoàn người vừa bước lên. Sống lưng cụ thẳng tắp như thân trúc già giữa ngàn thông, đôi mắt quắc thước không gợn chút dao động trước khí thế áp đảo của hàng giáo mác tuốt trần cùng sự căng thẳng tột độ của quan quân các bên.
Người đi đầu khoác trường bào thêu hoa văn mây đỏ sẫm của sứ bộ ngoại bang, tay cầm đoản trượng khảm ngà, khóe môi nhếch vẻ kiêu hãnh. Đi sát bên, Đặng Hoài Viễn trong bộ chiến bào màu huyết dụ vội bước lên trước nửa bước, chắp tay cười gượng gạo “Bẩm Khâm sai đại nhân, vị này là Sứ giả Khảo cương bên kia bờ cõi. Nghe tin triều đình ta sai người l*n đ*nh Khâu Sầm cắm tiêu ngắm bóng, sứ bộ e ngại việc đo đạc tùy tiện làm kinh động mối bang giao, nên theo bản quan lên đây chứng kiến.”
Khâm sai Lê Văn Uyển đứng sừng sững bên cạnh, tay vịn đốc Thượng phương bảo kiếm, lạnh lùng quét mắt “Đại Việt ta phụng chiếu Thánh thượng tu chỉnh Hồng Đức Bản Đồ, định rõ cõi bờ muôn trượng. Việc khảo đạc trên đất của ta, đường đường chính chính giữa thanh thiên bạch nhật, há có điều gì phải kiêng dè?”
Thấy không khí hai bên căng thẳng như dây cung kéo hết nấc, cụ Phù Khắc Chương chống tay lên thân cán gậy lim sáu thước, cất giọng trầm hùng vang vọng khắp đỉnh núi “Đặng đô sứ nói phải một nửa. Biên cương hai nước ngàn dặm non sông, dẫu một ngọn cỏ hay một hòn đá suy suyển cũng đủ dấy mối nghi ngờ. Nhưng đạo trắc lượng nước Nam từ thời vua Thái Tổ lập quốc luôn lấy nhật quy thiên văn và thực địa sơn xuyên làm gốc. Phép đo của lão phu cốt để định rõ từng thước đất. Đất đai láng giềng dẫu một phân quyết không tơ hào thiên vị, song giang sơn gấm vóc của tổ tông để lại thì dẫu nửa li cũng quyết không nhượng!”
Từng lời đanh thép của cụ già áo vải vang lên rành rọt giữa trời thu, khiến viên quan ngoại bang khẽ giật mình biến sắc. Viên sứ giả chầm chậm thu lại vẻ ngạo mạn, lặng lẽ chắp tay cúi đầu chào cụ Chương theo đúng nghi lễ bang giao.
Mặt trời thu phân đã nhô cao khỏi rặng núi xa, xua tan dần lớp sương mù đặc quánh. Cụ Chương quay sang Cảnh Nghiệp và Nông Văn Pẩu, ánh mắt nghiêm cẩn “Cảnh Nghiệp, Pẩu tráng sĩ! Giờ Thìn đã điểm, sương tan là lúc dây giăng. Mau mang đồng quy thằng và quả dọi đồng, theo lối mòn vách bắc hạ tiêu điểm chuẩn!”
“Trò tuân mệnh!” — Cảnh Nghiệp dõng dạc đáp lời.
Chàng buộc chặt dải khăn chàm ngang trán, đeo bọc quả dọi sau lưng, cùng Nông Văn Pẩu và hai tráng đinh người Tày tiến về phía gờ vực đá tai mèo.
Dưới sự chỉ đạo của cụ Chương, một đầu sợi đồng quy thằng được neo chặt vào chốt đá khắc tâm điểm chữ thập ngay giữa đài Khâu Sầm. Cụ đứng tựa vào gậy lim, phóng tầm mắt bao quát toàn cảnh thung lũng Phấn Lĩnh. Từng vách đá dựng đứng, từng khúc uốn của sông Kỳ Cùng và ba ngọn đồi sa khoáng thu trọn vào đôi mắt tinh tường của bậc lão sư.
“Pẩu tráng sĩ dẫn đường sang mỏm Ké Phù! Cảnh Nghiệp hạ dây dọi ở gờ đá Cổng Trời, đón lấy phương vị Tý Ngọ!” — Tiếng cụ truyền đi sang sảng giữa thinh không.
Nông Văn Pẩu vóc dáng vạm vỡ thoăn thoắt trườn qua kẽ đá, cắm từng cọc tiêu gỗ nghiến xuống mỏm đá nhô ra giữa vực sâu. Bám sát phía sau, Cảnh Nghiệp thoăn thoắt leo qua triền đá cheo leo. Sợi đồng quy thằng óng ánh sắc kim khí được kéo căng tắp qua các sườn non, không hề chùng xuống dù gió núi rít gào. Sợi dây đồng tôi luyện qua ngọn lửa than củi và nước suối ngầm phát huy sự dẻo dai phi thường, giữ nguyên cự ly chuẩn tắc nối liền các đỉnh núi.
Trên đài cao, cụ Chương mở chiếc kim bàn đồng thau hai mươi bốn phương vị đặt cạnh nhật quy xích. Đôi bàn tay chằng chịt vết đồi mồi khẽ xoay trục kim từ thạch, chăm chú dõi theo đường dây đồng đang giăng thẳng tắp qua khoảng không ngút ngàn.“Các họa đồ sinh nghe rõ!” — Cụ Chương cất giọng đĩnh đạc.
Hai viên thư lại của Thư các vội quỳ bên tấm bảng gỗ quét vôi trắng dựng trên giá ba chân, tay cầm bút lông đẫm mực xạ, nín thở chờ đợi.
“Từ đài Khâu Sầm chiếu thẳng phương Càn đến mỏm Ké Phù, cự ly đồng thằng căng chuẩn: hai mươi tầm bốn thước sáu tấc! Góc nghiêng hạ xuống chân thung lũng: ba mươi hai phân! Dùng thuật Câu Cổ lập thành hình tam giác vuông: đáy câu định ba dặm, cổ cao năm dặm rưỡi!”
Ngòi bút lông trên tay các họa đồ sinh thoăn thoắt lướt trên bảng gỗ, ghi chép từng con số và vạch ra từng đường nét chuẩn xác trước sự chứng kiến công khai của mọi người. Vận dụng Cửu chương toán thuật, từng phân số góc nghiêng và cự ly dặm đường được cụ Chương tính nhẩm rành rẽ, mau lẹ như nước chảy mây trôi. Những con số cổ truyền là chứng cứ sắt đá định hình bờ cõi non sông.
Viên quan ngoại bang bước lại gần giá bảng gỗ, chăm chú nhìn từng phép tính tam giác vuông và cách chia ô vuông họa phương đồ của nước Nam, gương mặt lộ rõ vẻ kính nể xen lẫn kinh ngạc.
Đột nhiên, một luồng gió núi giật mạnh thổi bốc ngược từ hẻm sâu l*n đ*nh đài. Ở gờ đá Cổng Trời cách đài hơn nửa dặm, bóng áo chàm của Cảnh Nghiệp chao đảo dữ dội. Gió lốc cuộn tròn quất mạnh vào vách đá dựng đứng, toan giật đứt thế bám của chàng. Quan quân trên đỉnh đài thốt lên những tiếng kêu kinh hãi. Đặng Hoài Viễn khẽ nhếch mép chờ đợi tai họa.
Thế nhưng Cảnh Nghiệp không hề nao núng. Chàng gài chặt mũi chân vào kẽ đá tai mèo, một tay bám chắc mấu đá rêu phong, tay kia can trường đu mình bên mép vực giữ thẳng quả dọi đồng giữa gió lốc rít gào. Từ đỉnh đài nhìn qua làn gió cuộn, thấy sợi dây dọi đồng thau vẫn buông thẳng tắp không hề chao đảo, Cảnh Nghiệp liền vung tay phát tín hiệu cờ lệnh màu vàng, báo hiệu đường tiêu đã thăng bằng trọn vẹn.
Cụ Chương khẽ thở phào nhẹ nhõm, lòng trào dâng niềm tự hào trước ý chí kiên cường của người học trò. Cụ giơ gậy lim chỉ thẳng về dải thung lũng “Tiêu điểm ba: chân đồi Phấn Lĩnh giáp bờ nam sông Kỳ Cùng! Phương vị Cấn Dần!”
Sợi đồng quy thằng thứ hai tiếp tục được giăng ngang, nối liền từ mốc Cổng Trời xuống bãi bồi ven sông. Từng phép dựng tam giác vuông dần khép kín, đối chiếu hoàn hảo trên từng ô vuông họa phương đồ. Khi đường nét cuối cùng được vẽ xong, toàn bộ địa thế thực tế của dải đất biên thùy lập tức hiện ra rõ ràng tựa ban ngày.
Khâm sai Lê Văn Uyển sải bước tới trước bảng gỗ, giọng đanh như lệnh tiễn “Chư vị hãy nhìn cho rõ! Dòng sông Kỳ Cùng từ chân núi Yên Ngựa chảy thẳng về đông bắc theo mạch núi tự nhiên, cách đỉnh Khâu Sầm trọn vẹn hai mươi lăm dặm! Thế mà trên bản đồ Đô ty dâng nộp, dòng sông lại bị bẻ cong lệch về tây nam tới ba mươi tầm nước, cố ý gạt ba ngọn đồi sa khoáng Phấn Lĩnh ra ngoài bờ cõi!”
Các con số đo đạc thực địa và hình vẽ Câu Cổ vừa giăng dây đã bóc trần hoàn toàn sự bẻ cong dòng chảy sông Kỳ Cùng trên bản vẽ của Đô ty. Dòng sông chảy ngay thẳng theo thế đất tự nhiên, và dải mỏ sa khoáng Phấn Lĩnh ăn sâu mười dặm rõ ràng nằm trọn vẹn trong bờ cõi Đại Việt!
Toàn thể tướng sĩ triều đình và tráng đinh người Tày ồ lên phẫn nộ. Viên quan ngoại bang cúi gầm mặt, không thốt nổi nửa lời biện bạch trước đạo lý trắc lượng quang minh chính đại của nước Nam.
Đặng Hoài Viễn trán toát mồ hôi hột, sắc mặt chuyển từ tái nhợt sang tím bầm như chàm. Nhìn tấm bảng gỗ ghi rành rành tang chứng không thể chối cãi, gã lảo đảo lùi lại hai bước. Bất thần, gã ngửa mặt lên trời, đôi mắt vằn tia máu trợn trừng rồi điên cuồng chỉ tay về phía rặng núi mù mịt ở tây bắc, gào thét thất thanh “Mây xám kéo về rồi! Mây đen che kín trời tây bắc rồi! Trời sắp đổ mưa bão lớn, không có bóng mặt trời thì cán gậy gỗ của lão hủ chỉ là củi mục! Phép đo bóng nắng chính ngọ của các người sẽ thất bại tan tành!”
Bạn thích truyện này?
Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!
