Chương 12: Đột Kích Hang đá Lò Quặng

Tiếng tù và bằng sừng trâu rúc lên từng hồi the thé, xé toạc màn sương muối lạnh buốt của đại ngàn biên ải. Âm thanh man rợ ấy đập vào vách đá tai mèo, dội ngược lại thành những đợt sóng u uất khiến cành lá rừng già rung lên bần bật. Vừa cùng hai tráng đinh người Tày rời bản Thất Tuyền men theo triền đá hiểm trở, Trần Cảnh Nghiệp đã thấy vệt lửa đỏ rực phía thung lũng Phấn Lĩnh bốc cao ngùn ngụt, nhuộm đỏ cả một góc trời đêm.

Hai tráng đinh Tày lập tức dừng bước, nép sát vào khe đá vôi nứt nẻ. Người tráng đinh đi đầu khẽ giơ bàn tay chai sần ra hiệu cho Cảnh Nghiệp cúi thấp. Phía triền dốc thoải bên dưới, ánh đuốc bập bùng rọi sáng từng bóng giáp sắt nhấp nhô. Một toán lính tuần tiễu của Đô ty Lạng Sơn chừng mười tên, tay lăm lăm giáo dài và đuốc nứa, đang sục sạo con đường mòn. Tiếng ủng da giẫm lạo xạo trên sỏi đá, hòa cùng tiếng quát tháo cộc cằn “Soi kỹ từng bụi rậm! Tuyệt đối không để chuột bọ lọt vào khu mỏ!”

Cảnh Nghiệp ghì chặt lưng vào phiến đá lạnh buốt, nín thở đợi toán lính đi khuất. Bàn tay chàng siết chặt cây đoản côn gỗ nghiến bên hông, ngực áo ấm cộm lên chiếc kim bàn đồng thau hai mươi tư phương vị mà cụ Phù Khắc Chương vừa trao. Nhớ lời dặn dò của người thầy chín mươi tuổi nơi căn nhà sàn Thất Tuyền, ánh mắt chàng bừng lên ý chí sắt đá. Chàng khẽ gõ nhẹ đốt ngón tay phát tín hiệu. Ba bóng người áo chàm lập tức trườn đi thoăn thoắt, lách qua mạng lưới vọng gác dày đặc. Dưới sự dẫn lối tài tình của hai tráng đinh bản địa, họ khéo léo men theo các hốc đá ngầm tai mèo sắc nhọn, tiếp cận an toàn cửa ngõ thung lũng Phấn Lĩnh.

Càng tới gần, luồng gió núi thốc ngược càng nồng nặc mùi than củi cùng khí lưu huỳnh khét lẹt xộc thẳng vào mũi. Hơi khói độc cay nồng nghẹn ứ cuống họng khiến Cảnh Nghiệp phải vội kéo vạt khăn che kín miệng mũi. Nấp sau một mỏm đá nhô ra tựa hàm ếch trông xuống lòng chảo, cảnh tượng bày ra trước mắt khiến chàng không khỏi bàng hoàng. Giữa thung lũng, hàng chục lò nung đất đỏ rực lửa, cuồn cuộn nhả từng cột khói đen kịt lên nền trời. Dưới ánh lửa bập bùng ma quái, hàng trăm phu mỏ thân hình gầy guộc như những bộ xương khô, áo quần rách xơ xác, còng lưng cõng những sọt đá quặng nặng trĩu bước ra từ cửa hang. Đôi bàn chân trần của họ tứa máu trên nền đá dăm nhọn hoắt.

Bên cạnh các lò luyện quặng, đám cai ngục mặc áo chẽn đen thêu dấu hiệu lò rèn Vạn Ký lăm lăm những ngọn roi mây bện gân bò. Tiếng roi quất đen đét vào da thịt tr*n tr** vang lên man rợ, kèm theo tiếng thét đau đớn xé lòng “Lũ khốn! Mau chân lên! Đêm nay phải xong hai mươi lò mẻ cuối, chậm trễ một khắc thì vứt xác xuống hố vôi!”

Một lão phu mỏ kiệt sức ngã quỵ xuống đất làm quặng đổ tung tóe. Tên cai ngục hung hãn chẳng chút xót thương, vung ngọn roi da quất xối xả vào tấm lưng còng chằng chịt vết thương của ông lão, bắt ông phải gượng dậy bốc tiếp. Cảnh Nghiệp nghiến răng ken két, ngón tay bấu chặt vào gờ đá đến bật máu trước sự tàn bạo của lũ gian nhân.

Cố nén cơn giận, Cảnh Nghiệp hướng ánh nhìn về khoảng đất rộng dưới chân vách núi phía tây. Nơi đó, hơn mười cỗ xe thồ bịt kín vải gai dầu đen đang nối đuôi nhau. Trên góc các tấm bạt che đều in rõ dấu triện tròn hoa hồi có chữ Vạn lồng ở giữa — biểu trưng của thương đ**m Vạn Hưng Xa. Đám gia đinh lực lưỡng đang hối hả bốc xếp những thỏi đồng đỏ au sáng bóng và thỏi chì xám nặng trịch vừa đúc xong, xếp chặt vào các thùng gỗ thông lót rơm rồi đẩy lên xe.Đứng cạnh đoàn xe, một tên quản sự béo lùn đeo đai bạc cầm sổ bộ kiểm đếm, miệng gắt gỏng giục giã “Nhanh tay lên! Đô sứ đại nhân truyền lệnh, quan Khâm sai triều đình đã đến châu Thất Tuyền. Toàn bộ chuyến quặng đồng này phải chuyển gấp qua đường tiểu ngạch sang bên kia biên giới trước khi trời rạng sáng! Hễ sơ suất để lọt một thỏi ra ngoài, Vạn lão gia lột da từng đứa!”

Lời tên quản sự phơi bày trọn vẹn dã tâm phản nghịch: bè lũ Đặng Hoài Viễn đang gấp rút tẩu tán tài nguyên Đại Việt ra nước ngoài để phi tang trước khi quan trên tra xét. Nhưng để vạch trần mưu mô dời mốc, điều cốt tử là phải tìm thấy chứng tích phân giới cũ. Nhớ lời thầy dặn, Cảnh Nghiệp rút chiếc kim bàn đồng thau ra ngắm hướng rồi cùng hai tráng đinh luồn theo triền đá dẫn về sườn núi Yên Ngựa án ngữ phía ngoài.

Đến nơi, trước mắt chàng hiện ra một khe suối cạn quanh co. Chàng quỳ xuống vốc nắm đất chân vách lên mũi: mùi dầu tràm cổ xưa ngai ngái cùng vôi vữa lâu năm vương lại rõ rệt trong lớp đất đen sẫm. Ngước lên vách đá tai mèo, dải rêu phong xanh lục mọc thành hình chữ thập chỉ chuẩn xác phương bắc nam.

Đây chính là nền mốc phong cương thời Thuận Thiên của vua Lê Thái Tổ! Song khi nhìn xuống bệ đá, ruột gan Cảnh Nghiệp quặn thắt: cột mốc bằng đá xanh nguyên bản đã bị đục phá trơ trụi. Những vết đục sắt mới toanh băm nát chân móng, phần thân cột mốc bị lăn xuống đáy vực sâu nhằm phi tang dấu vết cõi bờ. Thay vào đó, cách bệ đá cũ lùi sâu vào nội thổ Đại Việt đúng mười dặm — ngay trên gờ đồi sát khu mỏ — một cọc đá mới toanh khắc niên hiệu mạo danh vừa được cắm trơ tráo, cắt đứt dải sa khoáng Phấn Lĩnh ra khỏi bản đồ nước nhà.

Không để quân gian xóa sạch sự thật, Cảnh Nghiệp trườn mình xuống mép vực. Giữa đống đá vụn, tay chàng chạm vào một phiến đá xanh nhẵn mịn. Dưới ánh trăng, mắt chàng sáng lên khi nhận ra một mảnh đá hoa cúc thời Lê sơ bị đập vỡ — hoa văn cúc dây thanh nhã đặc trưng của thời khai quốc vẫn còn vẹn nguyên. Trước đó, khi còn nấp gần đoàn xe nơi sân lò quặng, chàng đã nhanh tay chộp lấy một thỏi đồng chì mới đúc mang dấu triện chữ Vạn rơi cạnh bánh xe giấu vào bọc. Nay gom thêm mảnh đá hoa cúc này, chàng đã nắm chắc trong tay chứng cứ xác thực dâng lên Khâm sai.

Khi Cảnh Nghiệp vừa giấu kỹ hai thứ chứng cứ vào bọc vải toan rút lui thì tiếng quát giận dữ của một tên đốc binh vang lên xé toạc màn đêm “Kẻ nào lén lút ở đó? Chém!”

Từ sau tảng đá lớn bên lối mòn, một gã võ tướng Đô ty vạm vỡ nhảy xổ ra, kéo theo ánh đao loang loáng chém thẳng xuống đầu chàng.

Bạn thích truyện này?

Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!

Hãy là người đầu tiên để lại đánh giá cho tác phẩm này.