Chương 11: Lửa Ngầm Thung Lũng Phấn Lĩnh

Gió biên ải trên đỉnh mỏm Ké Phù rít buốt qua khe đá tai mèo. Đôi bàn tay gầy guộc của cụ Phù Khắc Chương vẫn ghì chặt cán gậy lim già, đốt ngón tay nổi gồ như rễ cây bám chặt vào vách đá. Ánh mắt quắc thước của cụ già chín mươi tuổi nén chặt cơn thịnh nộ, nhìn trừng trừng vào những cột khói xám đặc quánh đang vẩn đục góc trời Phấn Lĩnh.

Thấy lồng ngực thầy phập phồng vì uất nghẹn, Trần Cảnh Nghiệp vội đỡ lấy khuỷu tay cụ “Thầy, gió đỉnh mỏm rất độc, xin thầy bớt giận giữ gìn chân khí. Đường về bản còn gập ghềnh, xin thầy cẩn trọng.”

Khâm sai Lê Văn Uyển bước tới, vạt áo bào bay phần phật trong gió núi. Ông siết đốc kiếm bên hông, trầm giọng “Phù lão tiên sinh, sự thật đã rành rành. Mười dặm giang sơn bị xẻo cắt, tội trạng của Đặng Hoài Viễn khó lòng dung thứ. Chúng ta hãy mau trở về bản Thất Tuyền bàn định kế sách.”

Cụ Chương hít một hơi dài khí lạnh, chầm chậm thu cán gậy trắc lượng về ngang ngực “Đại nhân nói phải. Càng lúc dầu sôi lửa bỏng, lòng dạ càng phải tĩnh như nước giếng sâu. Mau về bản thôi.”

Toán tráng đinh người Tày nhanh chóng nâng chiếc cáng đòn tre đực. Dưới sự hộ tống của hiệu lực quân và Nông Văn Pẩu, đoàn người cẩn trọng men theo triền dốc đá tai mèo, trở về khu nhà sàn Thất Tuyền khi ráng chiều vừa tắt.

Gian nhà sàn gỗ nghiến của bản Thất Tuyền được canh phòng cẩn mật. Trên chiếc sập lớn, ngọn đèn dầu lạc hắt ánh sáng vàng ấm áp. Cụ Chương cùng Khâm sai Uyển cẩn thận trải cuộn địa đồ vẽ bằng mực xạ trên nền lụa dày. Cảnh Nghiệp đặt chiếc thước nhật quy xích bằng đồng thau cùng quả dọi lên mép lụa giữ phẳng mặt giấy.

Cụ Chương đưa ngón tay khô gầy miết dọc nét vẽ sông Kỳ Cùng uốn khúc, rồi dừng lại ở dải núi biên thùy “Khâm sai đại nhân, theo sách cổ triều, từ chân núi Khâu Sầm đo về hướng chính bắc, mốc đá phong cương Thuận Thiên do vua Thái Tổ dựng tọa lạc tại cổ họng sống núi Yên Ngựa, cách mỏm Ké Phù đúng hai mươi lăm dặm. Thế nhưng dải lò quặng khói đen kia chỉ cách chúng ta chừng mười lăm dặm. Đặng Hoài Viễn cấu kết cùng thương nhân Vạn Hưng Xa, ngấm ngầm cắm lùi mốc đá vào nội thổ Đại Việt trọn mười dặm, nuốt chửng ba ngọn đồi sa khoáng của nước nhà.”

Khâm sai Uyển đập mạnh tay xuống mặt sập gỗ, giận dữ thốt lên “Thật là phường sâu mọt táng tận lương tâm! Chúng ỷ thế ải Bắc xa xôi để dối trên lừa dưới. Một thước núi, một tấc sông của tiên liệt há có thể để lũ buôn quan b*n n**c đem dâng cho kẻ khác!”

Ngồi bên góc phản, Nông Văn Pẩu siết chặt nắm đấm, gân xanh nổi cuồn cuộn trên cánh tay ngăm đen “Đại nhân và cụ giáo chưa thấu hết nỗi thống khổ của bà con đâu! Ba năm qua, Đặng Hoài Viễn xua lính Đô ty bắt hàng trăm trai tráng giam dưới đáy thung lũng Phấn Lĩnh. Chân họ bị tra xiềng xích nặng trĩu, ngày đêm ngâm mình dưới khe suối buốt giá đãi đồng đãi chì. Khói độc từ các lò nung đất sét phả ra cay xè làm người ta ho ra máu. Ai kiệt sức gục ngã liền bị cai ngục của lò rèn Vạn Ký dùng roi gân bò quất xối xả, rồi vứt xác xuống hang đá lạnh lẽo!”

Pẩu nghiến răng ken két, căm hờn tiếp lời “Bao nhiêu đồng chì đúc thành thỏi đều chất lên từng đoàn xe thồ bọc vải bạt in triện Vạn Ký. Cứ nửa đêm về sáng, chúng lại lén lút tuồn lậu qua bên kia biên giới. Vạn Hưng Xa thu về hàng vạn nén bạc, chia chác một nửa cho Đặng Hoài Viễn để mua chuộc nha môn, bịt kín tai mắt quan quân hạt Lạng Sơn!”

Nghe những lời trần tình đẫm máu nước mắt của người thổ hào, Khâm sai Uyển toan hạ lệnh cho hiệu lực quân tiến thẳng vào thung lũng bắt quả tang.

Cụ Chương liền giơ cán gậy lim cản lại “Đại nhân chớ vội vàng. Thung lũng Phấn Lĩnh địa thế tựa lòng chảo, đồn bốt Đô ty canh phòng cẩn mật. Nếu triều đình điều quân rầm rộ xông vào, Đặng Hoài Viễn sẽ viện cớ loạn lạc chối tội, thậm chí xua phu mỏ tháo chạy để phi tang chứng cứ. Chưa rõ thực địa cắm mốc giả và chưa tìm ra tàn tích mốc đá phong cương Thuận Thiên cũ, chúng ta tuyệt đối không thể đo đạc mù quáng.”

Cảnh Nghiệp đứng bên cạnh, ánh mắt bừng sáng, liền tiến lên chắp tay quả quyết:“Thưa thầy, lời thầy dạy rất chí lý. Muốn định rõ cương thổ và bẻ gãy luận điệu của quân gian, trước hết phải nắm tường tận đường đi lối lại trong thung lũng và tìm ra chân tích cột mốc cũ. Con xin thầy và Khâm sai đại nhân cho phép con cùng tráng đinh người Tày bí mật thâm nhập thung lũng Phấn Lĩnh đêm nay để trinh sát sơ bộ!”

Cụ Chương nhìn sâu vào đôi mắt trong sáng mà kiên định của học trò. Cụ gật đầu, giọng trầm hùng “Được lắm! Có chí khí của kẻ sĩ Đại Việt. Nơi ấy đầy cạm bẫy hiểm ác, trò phải hết sức cẩn trọng, lấy việc bảo toàn tính mạng và thu thập manh mối làm trọng.”

Nông Văn Pẩu vỗ ngực cam đoan “Pẩu này sẽ cử hai tráng đinh giỏi leo vách đá nhất bản theo hộ vệ chú Nghiệp. Dù phải liều mạng, người Tày chúng tôi cũng quyết bảo vệ an toàn cho chú ấy!”

Đêm biên ải buông xuống, sương muối phả cái lạnh buốt thấu xương qua vách nứa. Giữa gian nhà sàn, bếp than củi nổ lách tách, hắt ánh lửa hồng ấm áp lên hai bóng người thầy trò.

Cụ Chương vẫy Cảnh Nghiệp lại gần, giọng cụ nhỏ nhẹ nhưng rành rọt từng chữ “Cảnh Nghiệp, lại đây nghe thầy dặn. Tiền nhân khi cắm mốc phong cương thời Thuận Thiên không bao giờ chọn bừa phiến đá ven đường. Cột mốc Thuận Thiên được tạc bằng đá xanh nguyên khối, dựng ngay nơi long mạch quy tụ để trấn giữ biên cương nghìn thu. Bọn gian tặc dẫu có đục phá hay xê dịch mốc đá đi nơi khác, nhưng dấu vết địa lý của mạch đất thì muôn đời không thể xóa nhòa.”

Cụ đưa ngón tay gầy vạch một đường trên tro bếp “Nơi từng có mốc đá trấn giữ, mạch nước ngầm thường tụ lại tạo thành khe suối cạn quanh co. Đất chân vách đá nơi ấy sẽ có màu sẫm đen do thấm vôi vữa và dầu tràm của lễ an vị khi xưa. Đặc biệt, rêu phong bám trên vách đá tai mèo xung quanh vị trí mốc cũ sẽ có sắc xanh lục đậm, mọc thành dải hình chữ thập chuẩn xác theo hướng chính bắc nam. Trò hãy men theo sườn núi Yên Ngựa, lần theo khe đá có nước rỉ ra để tìm dấu tích nền móng cũ.”

Cảnh Nghiệp chăm chú lắng nghe, khắc sâu từng lời vào tâm khảm “Dạ, con đã ghi nhớ rõ lời thầy dạy.”

Cụ Chương với tay lấy bọc vải chàm trên chiếc tráp gỗ, tự tay mở ra kiểm tra cẩn thận từng chiếc kim bạc châm cứu và những viên thuốc hoàn dưỡng khí đã chuẩn bị sẵn, nhét cẩn thận vào túi áo cho học trò. Đoạn, cụ rút từ trong ngực áo cừu ra chiếc kim bàn đồng thau sáng bóng có khắc tỉ mỉ hai mươi tư phương vị trao cho chàng “Đây là chiếc kim bàn đồng gia truyền phụ thân để lại, từng theo thầy qua khắp mười ba thừa tuyên. Kim từ thạch trong đĩa này luôn chỉ hướng chính bắc, không bao giờ sai lệch dẫu giữa sương mù dày đặc. Trò hãy mang theo bên mình phòng thân và định hướng lối về.”

Cảnh Nghiệp xúc động đón nhận, quỳ sụp xuống sàn gỗ nghiến dập đầu tạ ơn “Ơn thầy sâu nặng, con xin ghi lòng tạc dạ. Con nhất định sẽ tìm ra dấu tích mốc đá cũ, vạch trần tội ác lũ gian tà!”

Chàng giắt cây đoản côn gỗ nghiến bên hông, cùng hai tráng đinh người Tày lặng lẽ bước xuống cầu thang, thoăn thoắt hòa mình vào bóng đêm đen kịt của đại ngàn.

Cụ Phù Khắc Chương chống gậy lim già bước lại gần khung cửa sổ gỗ nghiến. Gió đêm lùa vào làm lay động chòm râu bạc như cước của vị lão trượng. Cụ dõi đôi mắt đăm chiêu nhìn theo bóng dáng người học trò nhỏ bé đang khuất dần sau màn sương muối lạnh giá.

Bất thần, từ hướng thung lũng Phấn Lĩnh cách đó mười lăm dặm, một vệt lửa đỏ rực bốc cao xé toạc màn đêm u tối. Từng chùm đuốc bập bùng nối tiếp nhau loang nhanh khắp các triền đồi, soi rọi những chòi canh nhấp nhô.

Ngay sau đó, tiếng tù và bằng sừng trâu của lính tuần tiễu Đô ty rúc lên từng hồi dồn dập, the thé dội vào vách đá tai mèo, phá tan sự tĩnh mịch của đại ngàn biên ải!

Bạn thích truyện này?

Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!

Hãy là người đầu tiên để lại đánh giá cho tác phẩm này.