Chương 10: Khói Lò Mỏ Phấn Lĩnh
Lời cam kết hào sảng của người thổ hào Châu Thất Tuyền vừa dứt, cụ Phù Khắc Chương khẽ gật đầu, đặt bàn tay khô gầy mang những đốm nâu thời gian lên bờ vai vạm vỡ của Nông Văn Pẩu “Có tấm lòng kiên trung của đồng bào dẫn lối, gian nan hiểm trở nào trên dải biên cương này lão phu cũng chẳng quản ngại. Đặng Hoài Viễn toan dùng chông gai để ngăn bước triều đình, nhưng lòng dân hướng về bờ cõi thì núi cao vực sâu cũng hóa đường bằng.”
Khâm sai Lê Văn Uyển vuốt chòm râu hoa râm, nét mặt nghiêm nghị lộ rõ vẻ quyết đoán, cất giọng đanh gọn “Lệnh cho toàn đoàn kiểm tra lại cung tên, đoản đao và các tráp đựng khí cụ. Chúng ta xuất hành ngay khi sương sớm chưa tan!”
Trời vừa hửng sáng nơi cửa ải Chi Lăng. Màn sương buốt giá phủ mờ những rặng đá vôi sắc nhọn tựa bãi chông dựng đứng giữa ngàn mây. Đúng như lời đã định, Nông Văn Pẩu phân công năm mươi tráng đinh người Tày chia làm các toán luân phiên. Cụ Chương được đỡ ngồi lên chiếc cáng đòn leo núi đan bằng thân tre đực dẻo dai, lót nệm êm bọc vải chàm ấm áp. Bốn chàng trai bản xứ vạm vỡ ghé vai nâng đòn cáng, bước chân thoăn thoắt nhịp nhàng, vững chãi tựa như lướt trên đất bằng.
Đoàn tuần khám không theo đường thiên lý xuôi theo dòng Kỳ Cùng – nơi các vọng gác của Đô ty Lạng Sơn đang dựng rào chông then gỗ – mà rẽ ngoặt vào một con đường mòn cheo leo luồn lách giữa các vách đá vôi tai mèo hiểm trở. Đây là lối đi bí mật mà chỉ phường săn thiện nghệ của người Tày, người Nùng mới thông thuộc.
Từ trên cáng đòn, cụ Chương vén mép rèm chàm nhìn xuống thung lũng sâu hun hút phía dưới. Qua khe đá hẹp, cụ thoáng thấy ngọn cờ hiệu của Đô ty Lạng Sơn cắm trơ trọi bên trạm kiểm soát chính lộ. Lính tuần của Đặng Hoài Viễn đang hùng hổ đóng cọc, chặn đường, tra xét từng gánh hàng buôn nhằm mưu toan trì hoãn bước tiến của đoàn khâm sai. Cụ Chương khẽ nhếch môi, ánh mắt ánh lên vẻ thông tuệ. Lũ quan tham nơi biên viễn quen thói lộng hành, ngỡ rằng giăng lưới nơi quan lộ là có thể bịt mắt triều đình, đâu ngờ hào kiệt sơn cước đã mở rộng tấm lòng chở che cho mệnh lệnh giữ gìn bờ cõi.
Cảnh Nghiệp rảo bước ngay sát mép cáng. Lưng chàng mang ống đồng đựng địa đồ và quả dọi, tay phải không rời chuôi đoản đao, tay trái cẩn thận kéo lại mép áo cừu lót lông thú phủ kín hai đầu gối cụ già để chắn từng cơn gió chướng buốt lạnh thốc qua khe núi. Cứ qua mỗi khúc cua gắt bên bờ vực thẳm, chàng lại ghé vai đỡ nhẹ thanh đòn tre, trầm giọng nhắc nhở “Thầy bám chắc tay vịn. Đoạn này đá tai mèo lởm chởm, gió vực thổi rất mạnh.”
Cụ Chương mỉm cười trấn an học trò “Trò chớ lo. Đòn gánh của tráng đinh Thất Tuyền êm như thuyền xuôi dòng nước. Lão già này vẫn vững lắm.”
Dẫu thân xác chín mươi tuổi đã mỏi mệt sau chặng đường dài, đôi mắt của vị Giám đạc sơn xuyên vẫn tinh anh lạ thường. Cụ lấy ra cuốn sổ tay trắc đạc bọc lụa cùng nghiên mực nhỏ cài bên hông tráp, cẩn trọng ghi chép từng chuyển biến địa hình. Trên tay cụ, chiếc kim bàn bằng đồng thau chia hai mươi tư phương vị liên tục xoay vần theo từng khúc quanh của vách núi.
Cụ ngước nhìn các ngọn núi đá vôi dựng đứng sừng sững giữa ngàn mây, đối chiếu với những nét vẽ ước lệ trong các bản vẽ cổ triều trước. Cứ cách nửa dặm đường, cụ lại nhắc Cảnh Nghiệp “Cảnh Nghiệp, nhìn rặng đá hình yên ngựa chếch về phương Cấn kia. Đó chính là ngọn Mã An Lĩnh ghi trong địa chí cổ. Khe nước dưới chân núi chảy xiết về phương Tý, ắt sẽ hợp lưu vào dòng Kỳ Cùng. Hãy ghi chú vào lề bản vẽ, chớ để sót một mạch nguồn.”
Cảnh Nghiệp chăm chú gật đầu, tay thoăn thoắt chấm mực ghi lại từng lời thầy dặn. Hai thầy trò phối hợp nhịp nhàng, biến cả chặng đường hành quân hiểm trở thành một cuộc khảo sát địa chí tỉ mỉ, chuẩn xác đến từng phân ly.
Sau gần hai canh giờ luồn lách qua những hẻm núi quanh co, con đường mòn bỗng mở rộng ra trước một thung lũng lòng chảo xanh ngắt. Những nếp nhà sàn mái ngói âm dương của Châu Thất Tuyền hiện ra thanh bình dưới chân núi, khói bếp bảng lảng quyện vào sương núi, tiếng chày giã gạo vang lách cách bên dòng suối trong veo.
Đoàn tuần khám vừa đặt chân đến cổng bản, tiếng tù và bằng sừng trâu đã rúc lên từng hồi rộn rã báo tin vui. Già trẻ gái trai người Tày, người Nùng xúng xính trong sắc áo chàm truyền thống ùa ra đầu dốc đón chào. Hay tin vị Giám đạc sơn xuyên của triều đình – cụ giáo năm xưa từng dạy chữ và giúp bản đắp đập dẫn nước cứu hạn – đã vượt hiểm trở lên biên cương để phân định bờ cõi, bà con mừng rỡ khôn xiết.
Những chiếc mẹt tre đầy ắp ngô nếp nướng thơm phức, những ống cơm lam dẻo quánh cùng những quả bầu nậm đựng nước suối mát lành được trân trọng dâng lên mời Khâm sai đại thần và đoàn quân tuần khám. Một cụ già người Tày tóc bạc như cước, hai tay bưng bát nước chè xanh nghi ngút khói tiến đến bên cáng đòn, run run thốt lên bằng giọng thổ âm trầm ấm:“Mười năm rồi mới lại được thấy bóng dáng cụ giáo! Đồng bào Thất Tuyền mong cụ như ruộng hạn mong mưa rào. Nghe tin lũ quan gian định đem đất mỏ của tổ tiên bán chác cho ngoại bang, ruột gan chúng tôi như có lửa đốt. Nay có cụ và quan Khâm sai lên đây phân định ranh giới, núi rừng Thất Tuyền từ nay có chỗ cậy trông rồi!”
Cụ Chương chống cán gậy lim già bước xuống cáng, hai tay đón lấy bát chè thơm, lòng rưng rưng xúc động. Cụ cúi đầu đáp lễ bà con “Đa tạ tấm lòng nồng hậu của đồng bào. Lão phu mang ơn hạt cơm ngụm nước của biên cương, dẫu phải đem tấm thân già này bón cho cỏ cây đất Bắc, cũng quyết không để kẻ gian xén bớt một tấc đất thiêng liêng của tiên tổ!”
Khâm sai Lê Văn Uyển đứng bên cạnh chứng kiến cảnh tượng quân dân một lòng, ánh mắt ánh lên niềm kiêu hãnh khôn xiết. Ông quay sang bảo các thị vệ và hiệu lực quân “Các ngươi hãy nhìn xem! Cương thổ Đại Việt sở dĩ vững bền qua bao phen binh lửa, không chỉ nhờ hào sâu thành cao, mà chính là nhờ lòng dân muôn người như một ở chốn phên dậu này!”
Sau khi đoàn người tạm dừng chân dùng bữa trưa đạm bạc và chỉnh đốn lại đội ngũ, Nông Văn Pẩu bước đến bên cụ Chương, ghé tai thì thầm “Cụ giáo, từ bản doanh nhìn sang dải Phấn Lĩnh bị rặng đá che khuất. Nếu cụ còn đủ sức, Pẩu này xin đưa cụ l*n đ*nh mỏm đá Ké Phù. Đứng ở đó, toàn bộ thung lũng quặng sẽ hiện rõ mồn một trong tầm mắt.”
Cụ Chương gật đầu dứt khoát “Đi! Lão phu lặn lội ngàn dặm lên đây đâu phải để ngồi nghỉ ngơi nơi trướng ấm.”
Được sự hộ tống của Pẩu, Cảnh Nghiệp và Khâm sai Uyển, toán tráng đinh khiêng cụ Chương men theo con dốc đứng dẫn lên mỏm đá Ké Phù – mỏm đá vôi vươn cao như một mũi kiếm khổng lồ chỉ thẳng lên trời xanh.
Gió biên ải trên đỉnh mỏm đá thổi lồng lộng làm phần phật vạt áo cừu. Cụ Chương vin tay Cảnh Nghiệp bước lên phiến đá cao nhất, đưa mắt nhìn về phía thung lũng sâu hun hút phía đông bắc.
Nông Văn Pẩu vươn cánh tay ngăm đen rắn rỏi chỉ xuống khoảng rừng trơ trọi phía dưới, trầm giọng căm hờn “Cụ giáo nhìn xem! Kia chính là vùng mỏ sa khoáng Phấn Lĩnh. Suốt ba năm qua, Đặng Hoài Viễn xua quân lính đóng đồn bốt kín mít, cắm biển cấm ngặt dân bản lai vãng. Kẻ nào đi săn hay tìm măng lỡ bước vào đó đều bị chúng bắt trói, đánh đập tàn tệ rồi vu cho tội vượt biên trái phép.”
Cụ Chương nheo mắt nhìn theo hướng tay chỉ. Giữa màu xanh bạt ngàn của rừng già biên ải, một khoảng lòng chảo rộng lớn bị đào bới nham nhở, đất đá đỏ au xới lộn tựa vết thương lở loét trên da thịt non sông. Nổi bật giữa vùng thung lũng ấy là hàng chục lò nung đắp bằng đất sét đỏ rực lửa. Những cột khói xám xịt, đặc quánh cuộn lên nghi ngút giữa trời xanh, tỏa ra mùi khét nồng nặc của than củi và kim loại bị nung chảy. Xung quanh các miệng lò, hàng trăm phu mỏ gầy guộc oằn mình khuân vác quặng thô dưới roi vọt của đám lính Đô ty.
Vị Giám đạc sơn xuyên chín mươi tuổi nín thở. Cụ chậm rãi giơ cán gậy trắc lượng lim già lên ngang tầm mắt, hướng đầu gậy thẳng về phía những cột khói đang bốc lên ngùn ngụt, rồi lại liếc nhìn cuốn sổ tay trắc đạc đang mở sẵn trên tay Cảnh Nghiệp.
Theo địa bạ cổ triều và vết tích mốc phong cương thời Thuận Thiên của vua Lê Thái Tổ khắc ghi trong sách lụa, đường ranh giới cương vực nguyên bản phải chạy dọc theo sống núi Yên Ngựa tít tắp ngoài xa, cách mỏm đá này đúng hai mươi lăm dặm đường. Thế nhưng, các lò luyện quặng rực lửa và hàng rào phòng tuyến của quân Đặng Hoài Viễn lại đang tọa lạc ngang nhiên ngay tại dải đồi trũng này.
Bằng trực giác trắc lượng cả một đời tôi luyện cùng phép đo ngắm phương vị chuẩn xác, cụ Chương bàng hoàng nhận ra một sự thật cay đắng: toàn bộ khu vực mỏ đồng sa khoáng đang bốc khói nghi ngút kia hoàn toàn không nằm ở vùng giáp ranh ngoài biên giới. Bọn chúng đã ngấm ngầm dời mốc đá cắm lùi sâu vào nội thổ Đại Việt đúng mười dặm đường, biến dải đất mỏ trù phú của giang sơn thành mảnh đất vô chủ để mặc sức bòn rút, cắt bán cho ngoại bang!
Đôi bàn tay gầy gò của cụ Chương siết chặt lấy thân gậy lim đến mức các khớp ngón nổi gồ lên. Ánh mắt cụ quắc lên ngọn lửa căm hờn tột cùng, nhìn trừng trừng vào những cột khói xám đang vẩn đục cả một góc trời biên ải.
Bạn thích truyện này?
Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!
