Chương 14: Trận Đồ Lạc Điền
Tiếng cuốc xẻng nện chan chát xuống nền sỏi đá khô cằn hòa cùng tiếng nước từ thùng gỗ dội xối xả, bốc lên mùi đất nồng khét lẹt. Nấp sau gờ đá xám bên triền dốc, Thôi Hạc nheo mắt nhìn toán gia nhân Tiền phủ đang dùng cành cây quét phẳng lì vệt bánh xe lún sâu ba tấc hai phân. Dấu vết đoàn xe chở nặng ba mươi thạch thóc đang bị xóa sạch ngay trước mắt họ.
– Chu huynh, – Thôi Hạc ghé sát tai Chu Hoài An, thì thào gãy gọn. – Cứ đà này, chỉ tàn nửa tuần hương nữa con đường mòn sẽ không còn chút tì vết. Huynh hãy mau quay lại quán trà nơi ngã ba đón ông nội, báo với người về đoàn xe chở nặng và con dấu phê chuẩn của Trần Bách Hựu. Đệ thân thủ gọn gàng, tráp gỗ nhẹ tênh, đệ sẽ bám sát lũ người này vào tận sào huyệt Lạc Điền dò la hư thực.
Chu Hoài An nắm chặt cổ tay Thôi Hạc, trong mắt ánh lên vẻ lo âu nhưng hiểu rõ đây là thời cơ ngàn năm có một – Trang trại họ Tiền nuôi đầy đao phủ, hiểm nguy khôn lường. Đệ chỉ được dò xét địa hình, tuyệt đối không được manh động!
Dứt lời, Hoài An rút từ bọc áo ra một mẩu than củi gói trong lá chuối khô dúi vào tay Thôi Hạc – Giữ lấy thứ này. Nhớ kỹ, tính mạng của đệ là trên hết!
Thôi Hạc gật đầu quả quyết. Đợi bóng Hoài An khuất dần sau rặng rừng dầu xơ xác, thiếu niên mười tám tuổi lập tức thít chặt quai tráp gỗ vào lưng, hạ thấp trọng tâm luồn lách qua những bụi gai mắt mèo khô cháy ven sườn dốc.
Nhờ vóc người dong dỏng nhanh nhẹn và đôi chân quen leo đồi từ thuở nhỏ, Thôi Hạc di chuyển êm ru như bóng sóc. Cậu bám theo bụi đất mù mịt do hai cỗ xe trâu chở nước để lại, khéo léo giữ cự ly hơn hai mươi trượng. Con đường mòn quanh co uốn lượn qua ba triền đồi cằn cỗi, dẫn sâu vào một thung lũng lòng chảo kín đáo.
Khi vệt ráng đỏ cuối cùng lịm tắt sau đỉnh núi phía Tây, trang trại Lạc Điền sừng sững hiện ra dưới đáy thung lũng. Đứng trên mỏm đất cao nhìn xuống, Thôi Hạc không khỏi thầm rùng mình kinh ngạc. Nơi này hoàn toàn không giống một thái ấp nông trang để canh tác hay ủ phân bón thông thường, mà được bài trí chẳng khác nào một tiền đồn quân sự kiên cố.
Bao bọc xung quanh trang trại là hai lớp tường rào tre gai ken dày, thân tre già ngâm nước vôi cứng như sắt, ngọn vót nhọn hoắt chĩa ra ngoài cản đường trèo vượt. Phía ngoài bờ rào là một con hào rộng hơn trượng. Sau nửa năm hạn hán khốc liệt, hào nước đã trơ đáy nứt toác, nhưng dưới lòng hào lại cắm tua tủa những hàng cọc tre vạt xéo sắc lẹm. Cổng chính ghép bằng những phiến gỗ lim dày cộp đóng đinh đồng, hai bên sừng sững hai chòi canh cao vút. Trên chòi, những tay gác đeo ống tên, tay lăm lăm cung nỏ, ánh mắt đảo liên hồi dưới quầng sáng bập bùng của những ngọn đuốc dầu trẩu.
Cứ mỗi khắc, lại có một toán hộ vệ mặc áo vải thô nẹp da bò, thắt lưng đeo trường đao sáng loáng tuần tra dọc theo bờ rào. Phòng bị cẩn mật đến mức một con chim sẻ bay qua cũng khó lòng lọt mắt.
Lối vào duy nhất đã bị khóa chặt. Ánh mắt Thôi Hạc đảo quanh, dừng lại ở một gốc dẻ gai cổ thụ mọc trơ trọi sát mé bờ hào cạn phía Tây Nam. Thân cây to hai người ôm, cành lá rậm rạp vươn hẳn qua mép rào tre gai, tạo thành một góc khuất che chắn tầm nhìn từ các chòi canh.
Không chút chần chừ, Thôi Hạc cởi đôi giày vải thô dắt ngang cạp quần, hai tay bám chặt vào lớp vỏ cây xù xì. Nhờ sự dẻo dai và khéo léo, cậu thoăn thoắt chuyền từ cành thấp lên chạc ba cao nhất của ngọn dẻ gai. Nấp sau tán lá rậm, tầm mắt Thôi Hạc bao quát trọn vẹn quang cảnh bên trong trang trại.
Khu vực trung tâm trang trại vắng lặng lạ thường, nhưng chếch về hướng Tây, dãy nhà chuồng ngựa dài hơn ba mươi gian lại nhộn nhịp một cách bất minh. Mùi xú uế của phân ngựa và rơm rác bốc lên nồng nặc xộc thẳng vào mũi Thôi Hạc, ngột ngạt đến khó thở. Thế nhưng, trong các gian chuồng chỉ lơ thơ vài con ngựa còi cọc nhai cỏ khô.
Dưới ánh đuốc sáng rực, mười cỗ xe bò xuất thành lúc nửa đêm đang đỗ thành hàng dài. Từng tấm phên rơm phủ ngoài bị giật phăng, để lộ ra hàng trăm bao tải lớn bọc kín bằng vải dầu sẫm màu chống ẩm. Gần bốn mươi tên phu khuân vác vạm vỡ m*nh tr*n trùng trục, mồ hôi nhễ nhại, đang hì hục vác từng bao lương thực chuyển vào sâu bên trong dãy chuồng.Ở gian chuồng thứ sáu và thứ mười hai, những máng cỏ bằng đá lớn đã bị đẩy trượt sang một bên, để lộ ra những bậc thềm đá dẫn sâu xuống lòng đất. Đó là những cửa hầm ngầm bí mật được xây dựng vô cùng kiên cố!
Bất chợt, một gã phu vác trượt chân nơi mép thềm đá. Bao tải rơi huỵch xuống nền đất, lớp vải dầu bọc ngoài bị góc máng đá rạch toạc một đường dài. Hàng ngàn hạt thóc vàng óng, mẩy tròn, khô ráo tuôn trào lách tách trên phiến đá xanh.
Tên quản đốc áo chẽn đứng gần đó lập tức giáng một ngọn roi da vào lưng gã phu, gầm gừ đè giọng – Đồ mắt mù! Mau hốt lại! Một hạt thóc thượng hảo hạng của kho nghĩa thương rơi ra ngoài, lão gia lột da cả nhà mày!
Nhìn những hạt thóc vàng rực dưới ánh đuốc, lồng ngực Thôi Hạc phập phồng căm phẫn. Hoài An và ông nội đã đoán không hề sai! Ba vạn thạch thóc cứu tế của nạn dân kinh thành không hề bị thiêu rụi thành tro, mà đang nằm nguyên vẹn dưới những căn hầm ngầm hôi hám này, chờ ngày lũ gian thương tung ra chợ đen bán với giá cắt cổ tám trăm văn một đấu!
Thời gian không còn nhiều. Thôi Hạc ghìm chặt hơi thở, nhẹ nhàng tháo chiếc tráp gỗ đeo sau lưng, đặt êm lên chạc cây vững chãi. Cậu lật mở nắp tráp. Mặt trong của nắp là phiến gỗ hoàng dương nhẵn bóng màu vàng nhạt. Thôi Hạc rút mẩu than củi Chu Hoài An trao, đôi tay khéo léo lia từng nét dứt khoát.
Từng chi tiết trận đồ Lạc Điền dần hiện rõ Chính giữa là dãy chuồng ngựa ngụy trang cùng hai cửa hầm ngầm chứa thóc; mé Đông là cổng chính kiên cố cùng hai chòi canh đặt cung nỏ; mé Bắc là dãy lán trại của hơn năm mươi tên hộ vệ mang đao; mé Nam có một cánh cổng phụ nhỏ bằng gỗ lim cài then chắc chắn.
Đặc biệt, ánh mắt Thôi Hạc dõi theo một đường mương cạn dẫn nước từ sườn đồi phía Tây đâm thẳng qua đáy hào khô, chui lọt qua chân rào tre gai để cấp nước vào chuồng ngựa. Do đại hạn kéo dài sáu tháng, con mương đã cạn trơ sỏi đá, tạo thành một lối hổng phòng ngự vừa vặn cho một người khom lưng đột nhập. Thôi Hạc dùng than củi khoanh tròn ba nét đậm lên lối mương cạn này. Đây chính là tử huyệt của toàn bộ trang trại!
Thổi nhẹ lớp bụi than vương trên mặt gỗ, Thôi Hạc cẩn thận gài then tráp, khoác lại lên vai. Cậu thở phào nhẹ nhõm, hai tay bám vào cành dẻ gai từ từ trượt xuống thân cây.
Thế nhưng, khi mũi chân Thôi Hạc vừa chạm tới thảm lá khô bên bờ hào cạn, một ngọn gió núi bất chợt đổi chiều thổi thốc từ triền dốc vào mé bờ rào.
Gâu! Gâu! Gâu!
Tiếng sủa đanh thép, hung dữ xé toạc màn đêm tĩnh mịch. Ba con chó săn mõm đen hung dữ bị xích gần chòi canh chồm lên dữ dội, mũi hếch lên không trung đánh hơi rồi điên cuồng cào móng vào phên tre gai.
– Có động tĩnh mé bờ hào! – Tiếng quát sắc lạnh của tên đầu lĩnh chòi canh vang lên rợn người. – Bụi rậm đằng kia có kẻ gian! Soi đuốc!
Ánh lửa từ hai ngọn đuốc lớn trên chòi canh đồng loạt vung lên, những luồng sáng đỏ rực như máu quét loang loáng qua mặt hào cạn, rọi thẳng vào bụi cây rậm rạp nơi Thôi Hạc đang thu mình ẩn nấp!
Bạn thích truyện này?
Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!
