Chương 11: Ống Nứa Bến Nam
Gió sông rít qua từng kẽ lá, cuốn theo hơi lạnh của màn sương đêm bao phủ dòng Lạc Thủy. Đón lấy tấm ngự bài Khâm sai từ tay cụ Thôi Thuần Trực, Chu Hoài An cẩn thận giắt vào ngực áo chàm rồi cùng Thôi Hạc nhảy phốc lên yên ngựa. Phía sau, tám kỵ mã Cấm quân với giáo dài và cung nỏ đã chỉnh tề hàng ngũ, sát khí đằng đằng.
– Lên đường! – Chu Hoài An quát khẽ, giật mạnh dây cương.
Tiếng vó ngựa xé toạc màn đêm, lao vút đi theo con đường mòn men bờ sông Lạc Thủy. Mười dặm đường hạ lưu mịt mùng sương gió tựa như sợi dây sinh tử kéo dài giữa dòng biến động. Gió đêm quất rát rạt vào mặt, sương mù phả cay xè khóe mắt. Bàn tay bỏng rát của Chu Hoài An nắm chặt dây cương, lưng áo rịn máu vì những vết đòn roi nơi hắc lao chưa kịp lên da non, nhưng tâm trí chàng chỉ hướng về xóm chài phía trước. Nếu lão hoa tiêu họ Trương bị sát hại, manh mối duy nhất nối liền từ nguồn lương bến Nam về kinh kỳ sẽ vĩnh viễn đứt đoạn.
Thôi Hạc thúc con ngựa bờm xám áp sát bên cạnh, cất giọng qua tiếng gió rít – Chu huynh, xóm chài nằm khuất sau bãi sậy ngã ba sông! Nơi đó sình lầy hiểm trở, bọn sát thủ chắc chắn đã đi đường bộ tiếp cận trước chúng ta!
– Phải nhanh hơn nữa! Tuyệt đối không thể để chúng ra tay trước! – Chu Hoài An nghiến răng giục ngựa.
Chưa đầy nửa canh giờ phi nước đại qua những gò đất mấp mô, mùi bùn non cùng tiếng sóng rập rình báo hiệu đoàn người đã tới khúc hạ lưu. Phía trước, xóm chài hoang tàn hiện ra dưới ánh trăng mờ đục với chừng mười nóc chòi lá xiêu vẹo nghiêng ngả ven mép nước, lau sậy mọc um tùm. Nơi đây vốn là chốn trú chân của dân chài, nay vì đại hạn mất mùa nên gần như bỏ hoang.
Chu Hoài An giơ tay ra hiệu toàn đội ghìm cương, nép mình sau rặng lau sậy rậm rạp. Phóng tầm mắt tới túp lều nát sát mép nước, chàng phát hiện ánh đuốc le lói cùng tiếng quát tháo hung hãn – Lão già ngoan cố! Mau nộp bản sao chứng từ bến Nam ra đây, may ra còn giữ được mạng!
– Ta không biết... Sổ sách trôi sông hết rồi! – Tiếng một ông lão yếu ớt nhưng kiên quyết đáp lại.
– Rượu mời không uống lại muốn uống rượu phạt! Chém chết lão rồi lục soát sau!
Ánh thép vừa lóe lên sau khe liếp rách, Chu Hoài An đã thét lớn – Xông vào!
Chàng tung mình nhảy xuống ngựa, cùng Cấm quân đạp tung cánh cửa liếp ọp ẹp. Cánh cửa rách bung chốt, đổ sập xuống nền đất ẩm. Dưới ánh đuốc chập chờn, một tên sát thủ to lớn vung cao thanh đại đao toan chém xuống cổ ông lão gầy guộc đang co rúm dưới đất. Viên Cấm quân đi đầu phi thân gạt phăng lưỡi đao hung thủ cắm phập vào cột nhà, trong khi Chu Hoài An lao tới húc mạnh vào ngực tên sát thủ khiến hắn ngã ngửa. Hai tên còn lại toan chém trả, nhưng Thôi Hạc đã nhanh như cắt vung một thanh củi gộc đánh trúng cổ tay một tên làm rơi hung khí. Toán Cấm quân lập tức ùa vào đè nghiến cả ba tên thích khách xuống nền đất bùn, trói chặt bằng dây thừng.
Gian lều rách nát trở lại vẻ tĩnh mịch, chỉ còn tiếng th* d*c của đoàn người.
Chu Hoài An vội bước tới góc lều, quỳ một chân cẩn thận đỡ ông lão dậy. Toàn thân lão già run rẩy bần bật, đôi mắt đục ngầu mở to đầy kinh hãi – Các người... cũng tới cướp mạng già này sao?
Chu Hoài An rút tấm ngự bài Khâm sai trong ngực áo ra giơ trước ánh đuốc. Mặt đồng thau sáng lấp lánh bốn chữ “Khâm sai chuẩn ngạch” cùng hình rồng mây uy nghiêm – Lão trượng đừng sợ! Tiểu chức là Chu Hoài An, thư lại kho Thường Bình, phụng mệnh Khâm sai đại thần Thôi Thuần Trực dẫn Cấm quân tới cứu lão trượng. Cụ Thôi đã phong tỏa bến Vạn Phước, bắt giữ bọn tay chân Tiền Thế Đức. Công lý đã đến rồi, xin lão trượng yên lòng!
Nhìn thấy ngự bài triều đình, hai hàng lệ bỗng trào ra trên gò má nhăn nheo của lão Trương. Lão run rẩy vuốt lên mặt bài đồng, giọng nghẹn ngào – Trời xanh có mắt... Triều đình không bỏ rơi dân lành! Mấy ngày qua lão già này trốn chui trốn lủi, chỉ sợ thác đi thì chân tướng cũng chìm dưới đáy sông...
Lão Trương vịn tay Chu Hoài An đứng dậy, bước về phía chiếc giường tre cũ lật tấm chiếu rách. Dưới chân giường, một chiếc hũ sành được vùi sâu dưới lớp đất ẩm. Lão quỳ xuống, dùng đôi bàn tay chai sần cào bới lớp bùn, cẩn thận nhấc chiếc hũ lên.Từ đáy hũ, lão Trương lấy ra một đoạn ống nứa già ngả màu vàng sẫm, dài chừng hơn một thước. Hai đầu ống nứa được nút chặt bằng vải dù tẩm sáp ong, niêm phong kín kẽ bằng sáp son đỏ tươi. Trên vết sáp son, dấu triện tròn khắc chữ “Ty Đốc vận bến Nam” vẫn còn nguyên vẹn.
Lão Trương nâng đoạn ống nứa bằng cả hai tay, kính cẩn trao cho Chu Hoài An – Chu đại nhân... Đây chính là bản sao chứng từ tải lương bến Nam. Lão theo đoàn thuyền áp tải ba vạn thạch thóc cập bến an toàn. Bọn người Tiền Thế Đức và Hộ bộ ép lão ký giấy man trá bảo rằng gặp bão đắm mất mười thuyền để trừ hao hụt. Lão nhất quyết không chịu, liều chết giấu bản sao gốc vào ống nứa này mang theo. Nay xin trao lại cho Khâm sai đại thần minh xét!
Chu Hoài An đón lấy ống nứa, cảm nhận sức nặng ngàn cân của sinh mệnh hàng vạn nạn dân đang nằm trọn trong tay mình. Chàng xúc động siết chặt bảo vật vào lòng.
Đúng lúc đó, ngoài bãi sậy vang lên tiếng bánh xe ngựa nghiến trên sỏi đá. Chiếc xe ngựa gỗ dừng lại trước cửa lều, Thôi Hạc vội chạy ra vén rèm, cung kính đỡ cụ Thôi Thuần Trực bước xuống.
Dù trải qua chặng đường dài xóc nảy trong đêm gió lạnh, lưng cụ Thôi vẫn thẳng tắp như tùng bách. Cụ chống chiếc gậy trúc bịt đồng, từng bước chậm rãi tiến vào túp lều rách.
– Thưa Cụ! Chứng từ gốc bến Nam đây rồi ạ! – Chu Hoài An bước nhanh tới, hai tay cung kính dâng ống nứa lên trước mặt cụ Thôi.
Ánh mắt cụ Thôi sáng quắc lên vẻ uy nghiêm. Cụ đón lấy ống nứa, khẽ bóc lớp sáp son niêm phong, cẩn thận rút ra cuộn giấy tuyên chỉ bọc lụa điều bên trong. Thôi Hạc nâng ngọn phong đăng lại gần để soi sáng.
Cụ Thôi lần mở từng trang chứng từ, đôi mắt sắc sảo lướt qua từng hàng chữ viết và con số son đỏ. Chu Hoài An nín thở dõi theo từng cử chỉ của cụ.
– Chuẩn xác không sai một chữ. – Giọng cụ Thôi vang lên đĩnh đạc giữa màn đêm. – Đúng ba mươi chiếc thuyền tải chở tròn ba vạn thạch thóc rời bến Nam, cập cảng kinh đô an toàn tuyệt đối. Có đủ chữ ký và dấu son của quan Đốc vận sứ. Hoàn toàn không hề có chuyện chìm thuyền hay hao hụt trên đường thủy như báo cáo của Hộ bộ!
Lời kết luận của cụ Thôi như một tiếng sét xé tan màn đêm u tối. Ba vạn thạch thóc cứu mạng muôn dân không hề mất đi hạt nào ngoài sông nước, mà toàn bộ đã bị lũ quan thương xẻ thịt bòn rút ngay tại cầu cảng kinh kỳ!
Cụ Thôi cuộn tròn bản chứng từ, cẩn trọng đặt lại vào ống nứa rồi trao cho Chu Hoài An cất giữ. Cụ quay sang nhìn lão hoa tiêu Trương, ánh mắt ngập tràn vẻ nhân từ – Trương lão trượng, ông đã vì sinh mệnh muôn dân mà giữ trọn khí tiết, công lao này triều đình sẽ ghi nhận xứng đáng. Thôi Hạc, đỡ lão trượng lên xe ngựa của ta, đưa về Đô sát viện chăm sóc chu đáo.
– Dạ, cháu tuân lệnh nội! – Thôi Hạc tươi cười đỡ lấy cánh tay gầy của lão Trương.
Cụ Thôi hướng mắt về phía toán quân lính đang áp giải ba tên sát thủ – Thu quân! Áp giải nhân chứng và tang vật về ngay Đô sát viện!
Thế nhưng, khi đoàn người vừa bước ra khỏi lán chài chuẩn bị lên ngựa, từ phía con đường cái ven sông bỗng vang lên tiếng vó ngựa dồn dập như sấm ran. Tiếng roi quất vun vút xé toạc màn sương dày đặc.
Một thám mã của Đô sát viện cưỡi con tuấn mã ướt đẫm mồ hôi lao tới. Chưa kịp ghìm hẳn cương, người lính đã ngã nhào xuống đất, lảo đảo quỳ rạp trước mặt cụ Thôi, dâng cao thẻ bài hỏa tốc bằng đồng, giọng thở không ra hơi – Báo... Khẩn báo Khâm sai đại nhân! Kinh thành có biến lớn! Thượng thư Vương Đôn đã tập hợp toàn bộ vây cánh Hộ bộ, dâng sớ khẩn vu cáo Đại nhân lộng quyền dung túng Chu Hoài An, tự ý phong tỏa bến cảng gây náo loạn! Vương Đôn quyết dồn ép Bệ hạ thu hồi ngự bài, bãi chức Khâm sai của Đại nhân ngay trong buổi thiết triều đầu giờ Thìn sáng mai!
Lời cấp báo vừa dứt khiến không khí xung quanh lập tức đông cứng lại.
Chu Hoài An siết chặt ống nứa trong tay, ngực thắt lại. Chàng ngước nhìn về phía chân trời phía đông, nơi bóng đêm đen đặc đang dần chuyển sang màu lam nhạt. Từ giờ tới buổi thiết triều đầu giờ Thìn chỉ còn chưa đầy hai canh giờ nữa. Một trận bão táp kinh thiên động địa chốn triều đường đang chực chờ nuốt chửng tất cả.
Bạn thích truyện này?
Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!
