Chương 6: Đánh Thức Cồn Vỏ Ốc
Ngọn gió từ cửa biển Hàm Giang lồng lộng thổi qua, cuốn theo làn cát mịn ràn rạt dưới chân. Đứng trên đỉnh cồn cát, bà con hai xóm Cồn Cát và Đồng Phèn đồng loạt hạ đòn gánh, sọt tre, ngơ ngác nhìn dải gò Cồn Vỏ Ốc sừng sững phơi mình dưới nắng sớm. Hàng triệu triệu vỏ sò, vỏ ốc chất chồng thành những triền dốc trắng lóa cả mắt.
Bác Ba Còng đưa tay che vầng trán nhăn nheo, băn khoăn nhìn cụ Khôi: “Cụ Khôi ơi, cái bãi rác nghìn năm này thì làng ta ai chẳng biết. Vỏ sò, vỏ ốc chết khô từ đời nào, cứng như đá cuội, sắc nhọn như mảnh sành, cày bừa xước cả lưỡi gang. Bà con xưa nay chỉ quen với phân chuồng, rơm rạ mục, thứ sỏi đá vứt đi này làm sao bón cho lúa tốt được hở cụ?”
Mấy bác nông dân bên cạnh cũng xì xào hoài nghi. Họ chưa từng nghe ai đem sỏi đá ngoài bãi biển về bón ruộng bao giờ.
Cụ Vân Chiêu Khôi mỉm cười điềm đạm. Cụ chống cây gậy tre, bước từng bước khoan thai xuống triền gò, vốc một nắm vỏ sò trắng khô nỏ lên tay. Cụ chọn ra một chiếc vỏ sò điệp to bản, dày dặn bằng nửa bàn tay, rồi cầm một mảnh vỏ ốc khác khẽ gõ vào lưng nó. Tiếng kêu “lách cách, lách cách” giòn tan vang lên giữa thinh không lộng gió.
Cụ Khôi đưa chiếc vỏ sò lên cao cho ánh nắng sớm rọi qua lớp vân khía đều đặn, cất giọng trầm ấm: “Bà con nhìn cho kỹ. Vỏ sò, vỏ ốc này ngậm lấy chất mặn mòi của đại dương ngàn năm mà kết thành đá cứng. Thứ này tưởng như vô dụng, nhưng nếu ta biết mượn lửa than hun đượm, nung cho vỡ vụn thì đá cứng sẽ hóa thành lớp bột vôi trắng muốt, xốp mềm.”
Cụ dừng lại một nhịp, nhìn vào từng gương mặt hốc hác đang chăm chú lắng nghe, rồi ôn tồn giảng giải tiếp: “Bột vôi này mang tính ấm của lửa, gặp nước sẽ bốc khói sôi sục. Khi đem bột vôi bừa sâu vào lòng đất phèn, tính ấm của vôi sẽ ghì chặt lấy cái chua gắt, cay nghiệt của gỉ sắt mà kéo lắng xuống đáy, không cho độc chất bốc lên cắn xé rễ non. Nước chua được gột sạch, bùn lạnh được ủ ấm, đất sẽ tơi xốp, ngọt lành trở lại. Đất sinh ra độc phèn thì trời cũng đặt sẵn thuốc giải ngay bên mé nước, chỉ đợi bàn tay con người đánh thức mà thôi.”
Lời giải thích mộc mạc mà thấu triệt của cụ già lưu đày như gỡ bỏ tảng đá nặng trịch trong lòng mọi người. Đám trai tráng trố mắt nhìn nhau, sự ngờ vực dần nhường chỗ cho vẻ thán phục.
Đúng lúc ấy, bé Mận từ sau lưng mẹ lon ton chạy tới, hai chỏm tóc củ tỏi ngộ nghĩnh lắc lư theo từng nhịp bước. Con bé cẩn thận bưng một chiếc vỏ ốc xoắn xà cừ óng ánh, mắt đen láy trong veo ngước nhìn cụ Khôi: “Ông nội Khôi ơi! Cháu nhặt được vỏ ốc này đẹp lắm! Cái này nung lên cũng thành bột trắng cứu ruộng lúa của má cháu được hở ông?”
Cụ Khôi bật cười đôn hậu. Cụ ngồi xổm xuống, xoa nhẹ lên mái đầu khét nắng của đứa trẻ, nhận lấy chiếc vỏ ốc xoắn: “Được chứ, Mận ngoan lắm. Vỏ ốc của con đẹp thế này, nung ra vôi lại càng xốp, càng ngọt đất đấy.”
Tiếng cười trong trẻo của bé Mận như giọt nước mát lành tưới vào bầu không khí oi nồng. Thím Hai Lành khẽ mỉm cười lau mồ hôi trên trán, còn bà con xóm nghèo thì cười rộ lên, bao nỗi âu lo trước cường hào dường như tan biến sau làn gió biển.
Trần Chấn bước tới, vung mạnh chiếc cào sắt cắm phập xuống lớp vỏ ốc, cất tiếng hô vang: “Bà con ơi! Cụ Khôi đã chỉ rõ đường đi nước bước, chúng ta còn chần chừ gì nữa! Dốc sức cào sò nung vôi cứu lấy ruộng đồng thôi!” “Đúng rồi! Cào sò cứu đất thôi!”
Tiếng reo hò rộn rã xé tan sự tịch mịch ngàn đời của Cồn Vỏ Ốc. Không ai bảo ai, mọi người lập tức tản ra khắp triền đồi bắt tay vào việc. Đàn ông vạm vỡ cầm cào sắt, xẻng bản rộng xới tung từng mảng vỏ sò kết tầng lâu năm; phụ nữ cầm sàng tre lắc đều tay để lọc sạch cát mịn, chỉ giữ lại lớp vỏ sò ốc dày dặn, khô nỏ. Bụi vỏ sò bốc lên mù mịt quyện trong mùi nồng ngai ngái của biển, nhưng ai nấy đều hăng say, rạng rỡ.
Trong lúc bà con thu gom vỏ sò, cụ Khôi cùng Trần Chấn đi dọc theo mé triền cát để khảo sát địa thế. Cụ quan sát ngọn phi lao ngả nghiêng, ngước nhìn vệt mây mỏng trôi trên bầu trời để đo hướng gió biển Hàm Giang. Đi chừng một tuần trà, cụ dừng chân trước một khoảng gò đất sét nện cao ráo, nằm sát mé sông Hàm Giang, cách bãi vỏ sò chừng trăm bước chân.Cụ Khôi dùng đầu gậy gõ xuống mặt đất nện chắc nịch, chỉ tay bảo Trần Chấn: “Chấn này, con xem, ta chọn chỗ này dựng lò. Vị trí này nằm trên gò cao ráo, mé sông tiện múc nước tôi vôi, lại có dải cồn cát phía đông che bớt những ngọn gió biển thổi thốc trực diện. Gió tạt mạnh quá thì lửa lò tản nhiệt, vỏ ốc chín không đều; nhưng lò nung lại rất cần luồng gió lùa thông thoáng từ mé sông thổi vào để hút gió nuôi ngọn lửa.”
Trần Chấn nhìn quanh, gật đầu tâm đắc: “Cụ tính toán thật chu toàn! Vậy ta đắp lò kiểu gì hở cụ?”
“Ta đắp ba bễ lò nung dã chiến hình vòm cuốn,” cụ Khôi điềm tĩnh vạch một đường cong trên nền đất. “Dùng bùn dẻo dưới mé lạch trộn với rơm vụn đắp thành bờ tường lò dày hai gang tay để giữ nhiệt. Đáy lò khoét cửa hút gió hướng ra bờ sông, đỉnh lò uốn vòm cong giữ than hồng. Ba lò này đỏ lửa suốt đêm ngày thì ba mẫu ruộng phèn mới đủ vôi bón lót.”
Hiểu rõ ý cụ, Trần Chấn liền dẫn một nhóm trai làng chia nhau hành động. Người lực lưỡng gánh bùn dẻo từ mé lạch lên nhào trộn với rơm mục, người chặt tre bánh tẻ uốn thành khung vòm cuốn. Dưới sự chỉ dẫn tỉ mỉ của cụ Khôi, từng vạt bùn rơm dẻo quánh được đắp lên khung tre, miết phẳng phiu thành ba bễ lò hình vòm vững chãi, cửa lò há rộng đón gió mé sông.
Mặt trời đứng bóng rồi ngả dần về hướng tây. Triền cát rộn ràng hẳn lên bởi tiếng cười nói, tiếng đòn gánh kĩu kịt không ngớt. Từng đôi sọt tre trĩu nặng trên vai trai tráng, chở những mẻ vỏ sò khô khốc từ đỉnh cồn đổ rào rào xuống bãi lò. Chẳng mấy chốc, xung quanh ba chiếc lò vòm dã chiến đã mọc lên những gò vỏ sò trắng tinh cao ngất ngưởng, lấp lánh như những đụn tuyết giữa trưa hè.
Thím Hai Lành bưng ấm nước vối hãm đặc, chia từng bát nước ấm cho những người thợ nhễ nhại mồ hôi. Uống ngụm nước ngọt giọng, ai nấy đều nhìn đống vỏ sò cao ngất mà phấn khởi, trong lòng nhen nhóm niềm tin mãnh liệt rằng mảnh đất phèn sắp được đổi đời.
Khi ráng chiều đỏ ối buông xuống cửa biển Hàm Giang, ba bễ lò đất đã khô se mặt, vách lò nứt nhẹ những đường chân chim và được thím Lành miết kín lại bằng một lớp bùn non mịn. Vỏ sò đã gom đủ hàng trăm sọt, chỉ còn chờ xếp củi khô vào lò để châm ngọn lửa đầu tiên.
Bà con xúm quanh ba bễ lò, háo hức chờ đợi giờ khắc nổi lửa. Cụ Khôi đứng tựa gậy bên cửa lò, ngước nhìn về hướng mé rừng ngập mặn phía thượng nguồn, nơi Trần Chấn cùng mấy thanh niên được cử đi chuyển củi khô tích trữ của xóm về bãi nung.
Bỗng nhiên, từ mé rặng đước xa xa, bóng người chạy hớt hải đạp trên bãi bùn lầy, tiếng th* d*c lẫn tiếng kêu thất thanh xé toạc không gian tĩnh lặng của buổi hoàng hôn: “Cụ Khôi ơi! Bà con ơi! Nguy to rồi!”
Mọi người giật mình quay phắt lại. Trần Chấn cả người ướt sũng bùn đen, áo nâu rách bươm vì gai cào, hai bàn tay rướm máu. Anh lảo đảo lao tới mé bễ lò, ngã quỵ xuống đất, ngực phập phồng dữ dội.
Cụ Khôi vội bước tới đỡ lấy vai anh, trầm giọng hỏi: “Chấn, có chuyện gì xảy ra? Củi khô của làng đâu?”
Trần Chấn ngẩng lên, đôi mắt đỏ hoe ngùn ngụt lửa giận, giọng nghẹn lại trong cay đắng: “Lũ... lũ tay sai Tiền gia trang! Chúng nó kéo người lén chặt phá tan tành toàn bộ bãi củi khô tích trữ của làng ngoài mé đước, rồi quẳng hết xuống đáy đầm ngập mặn rồi cụ ơi! Củi ngâm bùn ướt sũng... lấy gì mà nổi lửa nung lò bây giờ?”
Bạn thích truyện này?
Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!
