Chương 5: Nhóm Lửa Lòng Dân
Tiếng thanh la đập dồn cùng bước chân rầm rập của đám gia nô họ Tiền chìm dần sau con đê làng, trả lại cho xóm nghèo sự nín lặng ngột ngạt. Màn hoàng hôn đỏ quạch buông phủ xuống rặng dâm bụt xơ xác, phả vào lòng người nỗi hoang mang tột cùng.
Vừa thấy bóng chiếc kiệu hoa khuất hẳn, thím Hai Lành liền sụp xuống bậu cửa đất, khóc nấc lên từng chặp: “Trời cao đất dày ơi... Cụ Khôi ơi, sao cụ lại đem tính mạng ra đánh cược với loài lang sói ấy! Mảnh đất phèn này ngàn đời rỉ nước mắt, rễ lúa non cắm xuống ba bữa là rũ mục. Bốn tháng nữa lấy đâu ra bông lúa trĩu hạt, chẳng lẽ để cụ phải nộp mạng thật sao? Mẹ con con mang tội tày đình với cụ rồi...”
Bé Mận nép chặt vào vạt áo chắp vá của mẹ, hai bàn tay nhỏ xíu níu lấy cánh tay thím Lành, đôi mắt đen láy ngấn nước nhìn cụ già trước mặt: “Ông nội Khôi ơi... ông đừng để người ta chém đầu ông nhé...”
Cụ Vân Chiêu Khôi bước tới bên hiên, nhẹ nhàng nâng thím Lành đứng dậy, rồi cúi xuống xoa đầu bé Mận. Nụ cười của cụ đượm vẻ bao dung: “Thím nó nín đi, chớ làm con trẻ kinh sợ. Lão già này sống gần trọn đời người, há lại đi nộp mạng cho kẻ ác? Trời đất sinh vạn vật ắt có lẽ tương sinh tương khắc; đất ngậm độc thì ắt có thuốc hóa giải ngay mé nước. Lão không nắm chắc mười phần thắng thì quyết chẳng bao giờ hạ bút điểm chỉ vào văn khế.”
Đứng bên cạnh, Trần Chấn siết chặt cán cuốc sắt, gân xanh trên cánh tay rám nắng hằn lên cuồn cuộn. Ánh mắt chàng trai bừng bừng xúc động: “Cụ Khôi! Cháu biết cụ vì thương mẹ con thím Lành mà dấn thân vào hiểm nguy. Nhưng đất phèn Bạch Nham xưa nay vốn là đất chết, lão nông tri điền còn ôm đầu bỏ xứ. Cụ định dùng cách nào để thuần phục nó trong một trăm hai mươi ngày?”
Thấy đám người họ Tiền rút lui, mấy bóng người từ các túp lều lân cận quanh xóm Cồn Cát và Đồng Phèn mới dám rụt rè bước sang. Bác Ba Còng lưng gù cùng dăm ba người nghèo khó xúm quanh khoảng sân nhỏ, nhìn cụ bằng ánh mắt vừa ái ngại vừa kính phục.
Cụ Khôi đưa mắt nhìn những gương mặt lam lũ, ánh mắt cụ ấm áp như đốm lửa sưởi đêm đông: “Trần Chấn, con ra mé mương sau lều múc cho ông gáo nước phèn đỏ quạch lên đây. Mận ơi, con vào chái bếp bưng chiếc bát sành đựng tro nguội ra cho ông.”
Bé Mận nhanh nhảu chạy vào bếp, còn Trần Chấn sải bước ra bờ rãnh. Thoáng chốc, trước hiên đã bày ra một gáo nước phèn đỏ lòm nổi váng gỉ sắt và một bát sành đầy ắp bột tro rơm rạ mịn màng.
Cụ Khôi ngồi xổm trước chiếc chõng tre, rót dòng nước phèn từ gáo dừa vào chiếc bát đất nung sạch sẽ. Dưới ánh hoàng hôn, mặt nước nổi lên từng mảng váng màu gỉ sắt, bốc ra mùi chua nồng khé cổ.
“Bà con nhìn cho kỹ,” cụ Khôi chỉ tay vào bát nước, “thứ nước này chua gắt, chát đắng đến mức sâu bọ không sống nổi, rễ lúa non chạm phải là thối ngay. Bấy lâu nay bà con đắp bờ giữ nước, phèn độc ứ đọng lại càng thêm chua, cấy lúa sao đặng?”
Nói đoạn, cụ bốc nắm tro bếp rắc đều lên mặt bát nước phèn đỏ, rồi bẻ nhánh tre khô khuấy nhẹ từng vòng. Bát nước lập tức biến thành màu xám đục ngầu, tro nổi lềnh bềnh.
Mấy người nông dân nhìn nhau ngơ ngác. Bác Ba Còng tặc lưỡi: “Cụ ơi, tro bếp thì nhà nào chẳng có, nhưng rắc vào thế này chỉ tổ đục thêm nước, sao chữa được cái độc nghìn năm của đất?”
Cụ Khôi mỉm cười không vội đáp. Cụ đặt nhánh tre xuống, điềm tĩnh vuốt chòm râu bạc: “Bà con cứ bình tâm chờ trong nửa khắc. Đất trời vận hành huyền vi, hơi ấm của lửa tro gặp cái lạnh chua của đất độc sẽ sinh biến chuyển.”Gió biển Hàm Giang thổi qua rặng phi lao, mang theo hơi mặn mòi quen thuộc. Mọi ánh mắt đều đổ dồn vào chiếc bát đất nung trên chõng. Một điều kỳ diệu dần diễn ra trước mắt họ.
Những hạt tro mịn từ từ ngậm lấy chất độc màu gỉ sắt, nặng trĩu rồi kéo nhau chìm xuống đáy. Lớp nước phía trên dần tách ra, từ màu xám đục chuyển sang trong veo như mắt mèo. Lớp váng gỉ sắt biến mất tăm, chỉ còn lớp cặn dày nằm im lìm dưới đáy bát.
Cụ Khôi chấm ngón tay vào lớp nước trong, đưa lên miệng nếm thử rồi mỉm cười. Cụ quay sang chàng trai trẻ: “Chấn, con lại đây nếm thử xem vị nước thế nào.”
Trần Chấn bước tới, chấm ngón tay vào làn nước trong rồi đặt lên đầu lưỡi. Chàng trai giật mình, mắt mở to kinh ngạc: “Hết... hết chua gắt rồi! Nước không còn chát đắng nữa, chỉ còn vị thanh lạt như nước mưa!”
Thím Hai Lành cùng bác Ba Còng vội xúm lại nếm thử. Tiếng xì xào kinh ngạc bỗng chốc vỡ òa thành những tiếng thốt lên mừng rỡ: “Trời đất ơi! Thật kỳ lạ!” “Nước trong thật rồi, không còn mùi phèn rỉ sắt nữa!”
Nhìn bà con xúc động, cụ Khôi từ tốn giải thích: “Tro bếp mang hơi ấm của củi lửa, tính chất hòa nhã, gặp nước chua liền giữ chặt lấy độc chất kéo lắng xuống đáy, trả lại dòng nước lành nuôi cây. Tro bếp đã mầu nhiệm như thế, thì bột vôi nung từ vỏ sò vỏ ốc ngoài Cồn Vỏ Ốc kia lại càng gấp mười, gấp trăm lần! Đem vỏ sò nung thành bột vôi trắng bừa vào đất, kết hợp xẻ mương nương theo nhịp con nước lớn ròng của biển Hàm Giang để rửa trôi phèn chua, thì ba mẫu đất này ắt sẽ hồi sinh, đón mầm lúa non tươi tốt!”
Lời cụ già lưu đày như luồng gió mới thổi bùng ngọn lửa hy vọng trong lòng những người cùng đinh. Bao năm qua, họ cam chịu đói nghèo vì ngỡ đất cha ông là đất chết. Giờ đây, nhìn chiếc bát nước trong ngần, họ hiểu rằng hy vọng vẫn nằm ngay trong đôi bàn tay chai sạn của chính mình.
Trần Chấn hít một hơi sâu, quỳ một chân xuống sân đất, giơ cao lưỡi cuốc sắt lên nền trời sẫm tối: “Cụ Khôi! Cháu xin thề trước vong linh phụ thân, từ nay đem trọn sức lực này phò tá cụ! Cụ bảo bạt núi cháu bạt núi, cụ bảo lội bùn cháu lội bùn! Chúng cháu thề giữ lấy tấc đất tổ tiên, quyết làm cho lúa trổ vàng trên ba mẫu ruộng!”
Bác Ba Còng cùng bà con đồng loạt giơ cao đòn cọc, cuốc xẻng, mắt rưng rưng vẻ kiên cường: “Chúng tôi theo cụ!” “Quyết không để lão Tiền cướp đất!”
Cụ Khôi đỡ Trần Chấn dậy, lòng trào dâng cảm xúc ấm áp. Cụ điềm đạm dặn dò: “Lòng dân đã thuận thì việc khó mấy cũng thành. Bây giờ, thím Lành cùng các chị em đem gùi thóc giống chịu phèn trên gác bếp xuống, sàng sảy sạch vỏ trấu lép, ngâm đãi nước ngọt rồi ủ trên giàn cao chờ nứt nanh. Còn Chấn, con dẫn trai tráng chuẩn bị đòn gánh, sọt tre và cuốc cào. Đầu canh tư ngày mai, khi gà vừa gáy sáng, chúng ta trực chỉ Cồn Vỏ Ốc!”
Đêm ấy, ngọn đèn dầu le lói trong căn lều tranh ấm áp lạ thường, tiếng cười nói giòn giã át đi tiếng gió rít ngoài đầm bãi.
Sáng sớm hôm sau, khi sương mù còn giăng mắc trên những ngọn phi lao và vầng đông vừa ửng hồng mé biển, cụ Vân Chiêu Khôi chống gậy tre dẫn đầu đoàn người rảo bước qua dải cồn cát hoang vu. Tiếng đòn gánh kĩu kịt và bước chân rộn rã xua tan sự tịch mịch ngàn đời.
Khi cả đoàn bước l*n đ*nh cồn cát sát mé cửa biển Hàm Giang, ngọn gió đại dương lồng lộng thổi bạt màn sương sớm. Dưới ánh bình minh rạng rỡ, một cảnh tượng kỳ vĩ hiện ra khiến tất cả sững sờ: trước mặt họ, dải gò Cồn Vỏ Ốc sừng sững trải dài, hàng vạn sọt vỏ sò, vỏ điệp phế thải qua ngàn năm tích tụ thành từng triền đồi trắng xóa, lấp lánh như kho báu khổng lồ đang say ngủ dưới nắng mai.
Bạn thích truyện này?
Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!
