Chương 22: Lửa Đốt Văn Khế

Bốn thớt ngựa trạm phi nước đại phanh gấp trước cổng đình, móng sắt miết trên nền gạch rêu kêu ken két, làm tung lên một làn bụi cát mỏng. Viên dịch thừa phủ Nam Bình mình khoác áo dạ xanh thẫm, đầu đội nón chóp đồng, lập tức ghìm cương nhảy xuống. Trên hai tay y nâng cao ống quyển bằng đồng thếp vàng óng ánh, bước thoăn thoắt qua bậu cửa gỗ lim, hướng về phía thềm đình sụp lạy “Khởi bẩm quan Khâm sai! Án tình phủ đường đã định đoạt xong xuôi. Tri phủ Nam Bình kính dâng công văn xét xử cùng chiếu dụ triều đình vừa từ kinh đô hỏa tốc truyền về!”

Khâm sai Lê Hữu Viễn bước xuống bậc tam cấp đón lấy ống quyển. Ngài khẽ gật đầu, đưa mắt nhìn sang cụ Vân Chiêu Khôi đang đứng bên cạnh. Cụ Khôi vuốt chòm râu bạc dài chấm ngực, ánh mắt điềm tĩnh dõi theo từng động tác của vị đại thần Công bộ. Chung quanh sân đình, hàng trăm dân làng ba xóm Cồn Cát, Đồng Phèn và Bãi Ốc đứng ken dày đặc, nín thở ngóng chờ, sau lưng họ là những gụ lúa vàng ươm vừa gặt về chất cao như những ngọn đồi nhỏ tỏa hương rơm rạ nồng nàn.

Quan Khâm sai tháo dải lụa đỏ, mở rộng tờ công văn phủ đường đóng dấu triện son đỏ chót. Ngài hắng giọng, tiếng nói sang sảng vang dội khắp bốn góc sân đình “Phủ đường Nam Bình phụng mệnh điều tra, chứng cứ rành rành! Bản quan tuyên đọc kết luận phân xử: Tội nhân Tiền Bá Vạn và nguyên Đề lại Nguyễn Tòng phạm tội sát nhân bịt đầu mối thân phụ tráng sĩ Trần Chấn, gian lận địa bạ đo khống năm mươi mẫu điền thổ, lại còn rắp tâm đục phá cống ngăn mặn hòng dìm chết mùa màng của bách tính, tội ác tày trời không thể dung thứ! Nay tuyên phạt hai tên nghịch tặc mức án lưu đày biệt xứ ngàn dặm nơi biên viễn, vĩnh viễn không được ân xá. Toàn bộ điền sản, kho tàng và dinh cơ của Tiền gia trang bị tịch thu sung công, trích ra bồi thường thỏa đáng cho thân quyến người bị hại cùng toàn thể dân làng chịu cảnh oan khiên!”

Tiếng reo hò vỡ òa khắp sân đình. Bà cụ Tứ mù lòa được bà con chòm xóm dìu bên mé đình, hai dòng lệ đục lăn dài trên gò má nhăn nheo, đôi bàn tay run rẩy chắp trước ngực tạ ơn trời đất. Trần Chấn đứng sừng sững bên cạnh, bàn tay siết chặt khúc cọc tiêu gỗ lim ba khía của cha, đôi mắt đỏ hoe nhưng ánh lên vẻ thanh thản, rũ sạch mọi oán hờn tăm tối đã đè nặng suốt bao năm ròng.

Khi tiếng reo vui tạm lắng xuống, Khâm sai Lê Hữu Viễn vung tay ra hiệu. Trần Chấn cùng bốn tráng đinh vạm vỡ liền khiêng hai sọt tre lớn ra đặt giữa khoảng đất trống trước cửa đình. Bên trong sọt chật ních những xấp giấy bản ngả vàng buộc dây gai thô ráp, chính là toàn bộ văn khế nợ khống, giấy vay nặng lãi và sổ bộ gian lận mà Tiền gia trang đã dùng để bóp nghẹt mạng sống của hàng trăm con người suốt mấy mươi năm qua.

Quan Khâm sai bước đến bên chậu than rực hồng, rút ra một ngọn đuốc tẩm dầu trẩu rồi hai tay kính cẩn trao sang cụ Khôi “Tiên sinh là người đã đem tính mạng chở che cho bách tính, dẫn lối cho mảnh đất cằn cỗi hồi sinh. Xiềng xích nô dịch này, xin kính mời tiên sinh tự tay hóa giải.”

Cụ Khôi đón lấy ngọn đuốc. Ngọn lửa bập bùng soi rõ gương mặt quắc thước và đôi mắt đượm tình thương yêu sâu thẳm của cụ già từng đi qua hai kiếp nhân sinh. Nhìn xuống lớp giấy nợ từng dồn bao gia đình vào cảnh tan đàn xẻ nghé, giọng cụ trầm ấm vang lên, rành rọt từng tiếng “Đất trời sinh ra ruộng đồng là để nuôi sống con người, không phải để phường gian xảo dùng làm cùm gông đọa đày kẻ yếu. Hôm nay, bùn phèn đã hóa đất thơm, bóng tối tiêu tan thì những tờ giấy oan nghiệt này cũng không còn chốn dung thân.”

Cụ Khôi dứt khoát hạ ngọn đuốc vào giữa đống văn khế. Lửa bén vào giấy khô nỏ bùng lên rừng rực, tiếng lách tách giòn tan hòa vào làn khói trắng cuộn tròn bay thẳng lên bầu trời thu trong vắt. Những mảnh giấy khế ước cháy đen, vỡ vụn thành tàn tro bay lả tả trong làn gió mặn mòi từ cửa biển Hàm Giang thổi vào. Tiếng reo hò, tiếng vỗ tay và cả những tiếng khóc mừng tủi của dân nghèo vang động cả góc trời. Mẹ con thím Hai Lành ôm lấy nhau, trút bỏ hoàn toàn nỗi sợ hãi mất nhà mất đất đã đè nặng bấy lâu.Chờ ngọn lửa dần thu nhỏ lại, Khâm sai Lê Hữu Viễn tiếp tục mở chiếc tráp sơn son thứ hai, cẩn trọng nâng dải gấm vàng thêu rồng phụng. Toàn thể dân làng Bạch Nham đồng loạt quỳ rạp xuống sân gạch, trang nghiêm lắng nghe chiếu chỉ tối thượng.

“Phụng thiên thừa vận, Hoàng đế chiếu viết: Tổng Bạch Nham ven biển phủ Nam Bình nguyên là chốn đồng chua nước mặn hoang tàn, nay dân thôn đồng lòng khai hoang thau rửa, biến bãi lầy thành đồng lúa bội thu, công lao điền dã vô cùng to lớn. Căn cứ theo Chiếu dụ khuyến nông của triều đình, đặc ân bãi miễn toàn bộ các khoản thuế đinh, thuế điền và tạp dịch cho toàn thể tổng Bạch Nham trong thời hạn đúng ba năm kể từ vụ mùa này, để bách tính yên tâm bồi bổ sức đất, an cư lạc nghiệp!”

Bà con nông dân mừng rỡ dập đầu tạ ơn đức lớn của triều đình. Nhưng giọng quan Khâm sai vẫn chưa dừng lại, ngài hướng ánh mắt kính cẩn về phía lão đồ gàn râu tóc bạc phơ “Lại có sắc chỉ riêng ban: Xử sĩ Vân Chiêu Khôi chí khí quang minh, tấm lòng vì dân vì nước rạng ngời nơi thôn dã, đem tài học uyên thâm giúp dân trừ phèn rửa mặn, lập nên kỳ tích chưa từng có tại dải duyên hải Nam Bình. Nay triều đình bãi bỏ hoàn toàn án lưu đày quản thúc năm xưa, khôi phục thân phận tự do và danh dự cho người! Đồng thời, Hoàng thượng đặc cách ban chiếu mời tiên sinh hồi kinh, nhậm chức Giám sự Nông giang tại Công bộ, trông coi việc đê điều, thủy lợi và nông chính cho muôn dân khắp bờ cõi!”

Cả sân đình chấn động trước ân sủng tột bậc ấy. Mọi người đều ngước nhìn cụ Khôi với ánh mắt vừa ngưỡng mộ vừa thảng thốt lo âu. Ai nấy đều hiểu, nếu cụ nhận lời theo quan Khâm sai về kinh thành hoa lệ, làng Bạch Nham sẽ mất đi người cha già, chỗ dựa vững chãi nhất của cả vùng bãi trũng.

Cụ Khôi chậm rãi cúi mình thi lễ theo đúng phép tắc, nhưng thần sắc vẫn an nhiên tự tại như rặng phi lao ngoài cồn cát. Cụ ngẩng đầu, từ tốn thưa “Lão phu đội ơn sâu của Hoàng thượng và tấm lòng chiếu cố của quan Khâm sai. Nhưng thân già này tuổi đã gần đất xa trời, hai bàn chân chỉ quen lội dưới bùn phèn, bàn tay thô ráp chỉ quen nâng niu từng gốc rạ non. Nơi triều đường gấm vóc lầu cao, lão phu e mình không kham nổi chốn quan trường. Nay đất Bạch Nham vừa mới hồi sinh, cây lúa non cần bàn tay chăm bón, mương rãnh cần người trông nom theo con nước ròng. Lão phu chỉ có một ước nguyện duy nhất, là được ở lại dải cồn cát này, làm một lão nông sớm tối cùng bà con cuốc đất trồng trọt, đem chút hơi tàn giúp đời cho trọn vẹn kiếp nhân sinh.”

Lời từ chối mộc mạc mà dứt khoát khiến Khâm sai Lê Hữu Viễn sững sờ giây lát, rồi bất giác thở dài một tiếng đầy cảm phục. Ngài chắp tay trước ngực, cúi gập người thi lễ thật sâu “Tiên sinh coi vinh hoa phú quý nhẹ tựa lông hồng, chỉ một lòng đau đáu vì bát cơm manh áo của bách tính, tấm lòng ấy quả thật cao vời vợi như núi Thái Sơn! Bản quan không dám gượng ép, xin ghi nhận tâm nguyện thanh cao của tiên sinh để dâng sớ tâu trình lên thánh thượng.”

Ngay chiều hôm ấy, nơi gian tiền tế đình làng mát rượi bóng cây cổ thụ, quan Khâm sai cho bày nghiên mực, giấy bản thượng hạng cùng bút lông cẩn thận. Bên cạnh bàn trà mộc, ngài ngồi chăm chú lắng nghe cụ Khôi chậm rãi truyền đạt từng phép tắc canh tác điền dã. Cụ Khôi tỉ mỉ chỉ dẫn cách nung vỏ sò ốc ở Cồn Vỏ Ốc lấy vôi tôi khử chua gắt của đất phèn máu trâu, cách đào hệ thống mương rãnh hình xương cá nương theo nhịp bán nhật triều ngày hai lần lớn ròng để thau chua rửa mặn ra cửa Hàm Giang, cùng bí quyết ủ hoai bèo cói làm lớp bổi mục nuôi dưỡng đất và ngăn phèn bốc ngược trong mùa khô hạn.

Từng nét chữ chân phương của quan Khâm sai thoăn thoắt lướt trên mặt giấy, đúc kết toàn bộ tri thức điền dã quý giá vào cuốn sách nông thư mang tên “Trừ Phèn Duyên Hải Lược Ký” để đệ trình Công bộ, chuẩn bị nhân rộng khắp các hạt duyên hải phủ Nam Bình.

Đống tro tàn của các văn khế vừa lịm tắt thì hương thơm thanh ngọt ngào ngạt của mẻ gạo mới đồ trong chõ gỗ bắt đầu bay tỏa khắp sân đình, báo hiệu ngày hội mừng cơm mới linh đình của xóm nghèo.

Bạn thích truyện này?

Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!

Hãy là người đầu tiên để lại đánh giá cho tác phẩm này.