Chương 16: Sổ Khống Phơi Bày

Tiếng cười the thé của Tiền Phúc chưa dứt, cụ Vân Chiêu Khôi đã bước tới, chòm râu bạc khẽ rung trong ngọn gió mai se lạnh. Đôi mắt cụ nhìn thẳng vào gương mặt bủng beo của tên quản gia, không nửa phần nao núng “Lưới trời lồng lộng, gieo gió ắt gặt bão. Gian tà hay ngay thẳng, sớm nay trước mắt bàn dân thiên hạ tự có lẽ công bằng định đoạt.”

Giọng cụ Khôi trầm tĩnh mà đanh thép, tạt gáo nước lạnh vào cơn cuồng loạn của kẻ làm càn. Cụ quay sang dặn Trần Chấn “Chấn này, con cùng bác Ba áp giải ba người bọn họ về chái lều sau nhà thím Lành canh giữ, thu gom toàn bộ xà beng sắt làm bằng chứng. Tuyệt đối không được đánh đập, để nguyên tang chứng đợi đối chất.”

“Dạ, cháu nghe lời cụ!” Trần Chấn siết chặt dây thừng gai trói nghiến Tiền Phúc, rồi cùng dân làng lôi ba tên gian tặc đi về phía xóm nghèo.

Cụ Khôi chưa vội vào làng ngay. Chống cây sào tre, cụ rảo bước dọc con trạch lớn dẫn nước vào đồng. Gió bão đã lặng, sông Hàm Giang bắt đầu xuôi dòng theo nhịp nước ròng sớm. Cụ cúi người, vốc một vốc nước trong mương lên ngửi rồi khẽ nếm thử. Nước thơm mùi phù sa non quyện lẫn cỏ dại, tuyệt nhiên không vương chút vị mặn chát hay hăng nồng của phèn rỉ sắt. Cánh cống ngăn mặn được chèn nêm kịp thời đã giữ trọn vẹn dòng nước ngọt cho ruộng đồng.

Phóng tầm mắt nhìn cánh đồng trăm mẫu, lòng cụ dâng lên niềm an ủi khôn xiết. Nhờ mạng lưới mương máng xương cá đào sâu tiêu thoát nước nhanh chóng, những vạt lúa đang ôm đòng chỉ bị dập nhẹ vài ngọn lá xanh trước cuồng phong, gốc rễ vẫn bám chặt lớp bổi mục xốp mịn, kiên cường vươn mình đón nắng mai. Trận bão dữ không dìm chết được cánh đồng, mà còn cuốn phăng đi lớp váng cặn cuối cùng ra biển sâu.

Trở về chái lều dựng tạm sau nhà thím Hai Lành, cụ thấy bà con hai xóm Cồn Cát và Đồng Phèn đã đứng vây kín trong ngoài. Tiền Phúc cùng hai tên hộ viện ngồi bệt dưới nền đất nện, mặt mày tái mét nhưng ánh mắt vẫn lấm lét dòm ngó. Dưới chân chúng là ba thanh xà beng sắt hoen gỉ, đầu vẹt nham nhở vết đục then cống gỗ lim.

“Khám người chúng xem còn giấu giếm thứ gì không.” Cụ Khôi điềm đạm lên tiếng.

Trần Chấn bước tới, giật phăng đai lưng bằng lụa thô của Tiền Phúc. Sau lớp áo kép lót vải dầu chống nước, Chấn thò tay lôi ra cuốn sổ tay nhỏ bọc da bò màu nâu xỉn, mép sổ đã mòn vẹt vì chủ nhân thường xuyên lật giở.

Tiền Phúc thấy cuốn sổ rơi vào tay người khác thì mặt cắt không còn giọt máu. Gã chồm người định cướp lại nhưng lập tức bị hai trai làng đè chặt vai xuống đất “Trả lại đây! Đó là đồ riêng của Tiền trang chủ, lũ cùng đinh các người không có quyền đụng vào!”

Trần Chấn trao cuốn sổ cho cụ Khôi “Cụ xem, trong này ghi chép những gì?”

Cụ Khôi lật giở từng trang giấy bản ngả vàng dưới ánh sáng rạng đông rọi qua kẽ vách. Từng dòng chữ thảo hiện rõ mồn một. Đó là cuốn sổ ghi chép mật của viên quản gia, ghi rành rành từng khoản bạc nén lót tay: ngày rằm tháng Giêng đưa mười lượng bạc cho Đề lại Nguyễn Tòng để sửa mốc đo đạc; ngày mùng tám tháng Ba biếu hai mươi quan tiền kẽm để ký giấy niêm phong ruộng khẩn; và đặc biệt nhất là trang cuối cùng ghi rõ ước hẹn đêm qua: Tiền Bá Vạn hứa thưởng riêng ba mươi lượng bạc trắng nếu Tiền Phúc đục thủng then cống gỗ lim, dìm mặn chết tươi toàn bộ trăm mẫu lúa của dân làng để ép bán non lấy đất lập ruộng muối.

Đọc đến trang ghi chép về các đợt đo đạc địa bạ ba năm trước, mắt cụ Khôi khựng lại. Cụ vẫy tay gọi “Chấn, con lại đây nhìn xem con số này.”

Trần Chấn bước vội tới bên cạnh. Cụ Khôi chỉ vào dòng mực đen ghi rõ: bãi đầm tổng Bạch Nham vốn rộng hơn một trăm năm mươi mẫu, nhưng Tiền Bá Vạn đã cấu kết sửa sổ huyện nha rút bớt xuống còn một trăm mẫu hoang hóa phèn mặn, dời mốc giới sâu vào đất liền hơn bốn mươi trượng hòng biến phần đất tốt còn lại thành sở hữu riêng. Bên cạnh dòng số đo có dòng ghi chú lạnh gáy: “Kẻ đo đạc họ Trần cố chấp không chịu nghe lời, đã trừ khử ngoài đầm lầy, vùi cọc tiêu phi tang.”Bàn tay vạm vỡ của Trần Chấn run lên bần bật. Chàng trai trẻ rút khúc cọc tiêu gỗ lim cháy sém bọc trong manh áo tơi sau lưng ra. Chấn đặt đỉnh cọc có vết đẽo ba khía hình răng cá của người cha quá cố kề sát từng chữ số trong trang sổ. Dấu triện thước đo nha môn huyện Duyên Hải và những khía vạch trên thân cọc gỗ trùng khít hoàn toàn với các số liệu gian lận ghi trong sổ tay của Tiền Phúc!

Nước mắt Trần Chấn trào ra, nóng hổi lăn dài trên đôi gò má sạm nắng. Mối nghi ngờ nung nấu bấy lâu nay về cái chết khuất tất của cha đã được phơi bày tr*n tr**. Cha chàng không hề trượt chân chết đuối như lời nha môn rêu rao năm ấy, mà chính lũ cường hào độc ác đã mưu hại ông để bịt miệng cướp đất!

“Lũ súc sinh giết người đền mạng!” Trần Chấn gầm lên nghẹn ngào, bàn tay nắm chặt thanh xà beng sắt chực lao về phía Tiền Phúc.

Cụ Khôi vội vàng đặt bàn tay gầy guộc nhưng ấm áp lên bờ vai đang run rẩy của Chấn, giọng cụ trầm xuống đầy uy lực “Chấn! Dằn lòng tĩnh trí lại con! Cha con dưới suối vàng muốn thấy công lý được thực thi bằng phép nước, chứ không phải một cơn thịnh nộ mù quáng để rồi con mang tội giết người. Cọc gỗ này, cuốn sổ này chính là bằng chứng thép để lôi cả lũ chúng ra ánh sáng.”

Nghe lời cụ Khôi, Trần Chấn cắn chặt môi đến bật máu, từ từ buông thanh sắt xuống, gật đầu trong nước mắt.

Đúng lúc ấy, thím Hai Lành từ gian bếp nhỏ bước ra, hai tay cẩn thận bưng bát nước chè gừng nóng hổi, khói bốc lên nghi ngút thơm lừng mùi gừng già cay nồng quyện cùng lá vối thơm “Cụ ơi, cụ dầm mưa suốt đêm ngoài cống, cụ uống bát nước chè gừng cho ấm người kẻo nhiễm lạnh.”

Bé Mận nép bên vạt áo má, đôi bàn tay nhỏ xíu rụt rè chìa ra củ khoai nướng nóng hổi “Ông nội Khôi ăn khoai cho đỡ đói ạ.”

Cụ Khôi đón lấy bát nước chè, nhấp từng ngụm ấm áp. Vị cay ngọt của gừng lan tỏa, xua tan cái giá lạnh buốt nhức trong từng thớ gân cốt tuổi gần bảy mươi. Nhìn quanh chái lều, hàng chục nông dân áo quần còn ướt sũng đang quây quần bên đống than hồng. Những gương mặt hằn sâu vết chân chim của gió biển, những bàn tay chai sần thô ráp ngời lên ánh nhìn kiên định lạ thường, không còn bóng dáng cam chịu, sợ hãi như trước.

Cụ Khôi ngẩng đầu, nhìn khắp lượt bà con chòm xóm, cất giọng sang sảng “Bà con! Trời không phụ lòng người ngay, đất không dung thứ phường gian dối. Đêm qua bão dữ không quật ngã được chúng ta, thì hôm nay không quyền thế nào có thể cướp đi mồ hôi và mảnh đất hương hỏa này nữa. Thời khắc đòi lại công lý cho xóm nghèo đã điểm rồi!”

Tiếng dạ ran cả góc lều, vang vọng khắp một vùng bãi trũng.

Gạt bỏ mệt mỏi thể xác, cụ Khôi ngồi xếp bằng trên chiếc chõng tre cũ, kê tấm ván gỗ mộc lên đầu gối làm bàn. Dưới ngọn đèn dầu lạc leo lét, cụ bảo thím Lành mài một nghiên mực tàu đậm đặc, trải tờ giấy bản trắng tinh ra trước mặt.

Bằng sự am tường sâu sắc về thổ nhưỡng và địa mạo ngàn đời, ngòi bút lông của cụ Khôi thoăn thoắt lướt trên mặt giấy. Cụ liệt kê rành mạch tang chứng từ lời khai trong sổ tay của Tiền Phúc, đối chiếu vết đục then cống, đồng thời dựa trên độ bồi lắng bùn phù sa ngàn năm của dòng sông Hàm Giang và quy luật con nước triều lên xuống để phân tích vị trí cọc mốc thực tế. Bản trần tình đanh thép, lý lẽ khúc chiết, từng câu từng chữ như lưỡi dao sắc bén vạch trần toàn bộ thủ đoạn dời mốc khống, lừa quan trên nạt dân dưới của Đề lại Nguyễn Tòng và Tiền Bá Vạn.

Nét chữ cuối cùng vừa ráo mực, ánh mặt trời vừa ló rạng qua ngọn phi lao bên bờ sông, nhuộm đỏ cả vòm trời phía đông. Đột nhiên, từ phía đầu đường cái quan dẫn vào làng, tiếng loa đồng oang oang cùng những tiếng quát tháo hống hách của đám lính lệ huyện nha đã vang rền ngoài cổng đình làng Bạch Nham, thúc giục dân phu tập hợp để thi hành trát phạt.

Bạn thích truyện này?

Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!

Hãy là người đầu tiên để lại đánh giá cho tác phẩm này.