Chương 13: Đắp Bổi Nuôi Đất

Đầu ngón tay thô ráp của cụ Vân Chiêu Khôi khẽ miết dọc theo từng đường mực tàu vẽ ngoằn ngoèo trên mảnh giấy ố vàng. Dưới ánh đèn dầu leo lét tỏa mùi khói khét nhẹ, những nét son đỏ chấm phá ở các then chốt giữ cánh phai và vòm cống hiện lên rõ mồn một.

Trần Chấn nghiến răng ken két, hai bàn tay siết chặt đến mức các khớp ngón nổi trắng “Cụ xem, từng cái then gỗ lim, từng vệt kè đá âm dưới chân móng đều bị chúng đánh dấu tường tận. Lũ súc sinh Tiền gia trang tính đường đục thủng cống ngăn mặn để nước biển nuốt chửng đồng làng!”

Cụ Khôi khẽ đưa tay khoát nhẹ, ánh mắt già nua trầm tĩnh nhìn thẳng vào vẻ giận dữ bốc hỏa của chàng trai trẻ “Chấn, nóng giận chỉ làm mờ mắt. Đạo làm tướng giữ thành quý ở chỗ biết phòng khi giặc chưa tới, hiểu cớ khi mưu gian vừa manh nha. Con cống đầu tổng là yết hầu của cả trăm mẫu ruộng. Nay lão Tiền thua lý ở công đường, trát quan bị ta bẻ gãy, hắn ắt cùng đường mà giở ngón ném đá giấu tay. Một khi cánh cống bị nới lỏng hay đục thủng, ngọn triều Hàm Giang cuộn mặn tràn vào thì bao nhiêu công sức nung vôi, xẻ mương của dân làng đều trôi theo bọt nước.”

Trần Chấn hít một hơi sâu, kìm nén lồng ngực đang phập phồng “Vậy con phải tính sao, thưa cụ?”

“Hắn muốn lén lút phá hoại trong bóng tối, ta liền giăng lưới đợi sẵn giữa ban ngày lẫn đêm thâu. Ngay trong đêm nay, con hãy chọn lấy mười hai tay trai tráng gan dạ, kín tiếng nhất trong hai xóm. Chia làm ba tổ, ngày đêm thay phiên nhau mật phục sau rặng phi lao và bụi dứa dại mé cống. Cắm thêm cọc tre ngầm dưới lòng nước để đo mực nước rỉ. Thấy động tĩnh khả nghi chớ vội đánh rắn động cỏ, phải giữ bằng được then cống trước, rồi tức tốc báo về cho ông.”

“Con hiểu rồi! Con đi cắt đặt anh em ngay!”

Chấn chắp tay, khẽ khàng lách qua liếp cửa, bóng dáng vạm vỡ nhanh chóng chìm vào màn đêm tĩnh mịch.

Sáng hôm sau, khi vầng dương vừa ló dạng qua rặng phi lao xua tan làn sương mỏng giăng trên mặt đầm, tiếng tù và bằng vỏ ốc u u ngân dài báo hiệu ngày mới.

Toàn thể bà con hai xóm Cồn Cát và Đồng Phèn rầm rộ đổ ra cánh đồng bãi trũng rộng một trăm mẫu. Tiếng hò reo, tiếng bước chân rộn rã đạp trên cỏ lác khô hòa cùng tiếng xẻng cuốc va vào gốc bùn chan chát. Bác Ba Còng đầu quấn khăn rằn, lưng trần bóng nhẫy mồ hôi, dẫn đầu nhóm thợ cuốc lực lưỡng thoăn thoắt vạt cỏ, xẻ những con mương trục rộng ba thước sâu hai thước xuyên suốt cánh đồng. Từ mương cái, hàng trăm đường rãnh xương cá được bổ đều tăm tắp, mở lối cho dòng nước ngọt thượng nguồn len lỏi vào từng góc ruộng xa xôi.

Phía Cồn Vỏ Ốc ven mé sông Hàm Giang, không khí lại càng thêm sôi động. Ba bễ lò nung cũ không xuể, dân làng đắp thêm bốn lò vòm cuốn mới bằng bùn non trộn rơm rạ. Lửa đỏ rực suốt ngày đêm, khói trắng cuộn từng luồng bốc cao ngút trời. Từng núi vỏ sò, vỏ nghêu tích tụ nghìn năm được xúc đổ vào lòng bễ, hòa trong ngọn lửa than củi phi lao cháy đượm. Khi cửa lò hé mở, từng tảng vôi trắng xốp nhẹ như bấc được kéo ra, bốc khói cay xè mắt mũi.

Dưới sự chỉ dẫn của cụ Khôi, hàng ngàn sọt vôi bột nung xốp được gánh ra mặt đồng. Dân làng rải đều vôi xuống các luống bùn theo bước chân thụt lùi. Bột vôi gặp dòng nước ngọt đỉnh triều liền sôi lên xèo xèo, bốc hơi ấm nghi ngút. Lớp váng phèn đỏ quạch như gỉ sắt vừa chạm phải vôi liền kết lại thành từng tảng cặn xám tro rồi chìm dần xuống đáy. Đến con nước ròng buổi trưa, các cửa cống xả mở toang, dòng nước đục ngầu cuốn phăng toàn bộ độc chất đổ ra biển cả, để lại mặt ruộng những dải bùn non mịn màng, tơi xốp.

Thau chua rửa mặn xong xuôi, mảnh đất phèn máu trâu tuy đã sạch độc nhưng mặt ruộng vẫn trơ trọi, khô khát dưỡng chất. Cụ Vân Chiêu Khôi bước dọc bờ ngòi, khẽ cúi xuống vốc một nắm bùn non đưa lên mũi ngửi. Mùi chua gắt khé cổ đã tan biến, chỉ còn lại mùi ngai ngái của đất thịt, nhưng bùn còn non tơ quá, chưa đủ độ màu mỡ để nuôi thân lúa lớn.

Cụ dừng bước bên vạt đất đầu xóm, nơi thím Hai Lành và các bà, các chị đang đứng chờ. Cụ từ tốn bảo:“Bà con làm được đến đây là đã thắng một nửa rồi. Nhưng đất vừa rửa sạch độc cũng như người vừa khỏi cơn bạo bệnh, ruột gan còn trống rỗng, nếu vội vã cắm nhánh mạ non xuống bùn trơ thì cây lúa dễ còi cọc, khó lòng đơm bông mẩy hạt. Nay ta phải đắp bổi, mượn cỏ cây mục nát mà bồi dưỡng lại sinh khí cho đồng đất.”

Thím Hai Lành chùi mồ hôi trên trán, tò mò hỏi “Thưa cụ, đắp bổi là làm cách nào để đất ấm lại ạ?”

Cụ Khôi mỉm cười đôn hậu “Trời đất vốn không bỏ phí thứ gì. Ngoài đầm kia rong rêu bèo cói xanh tốt bời bời, ấy chính là thức ăn bổ béo nhất của đất. Thím bảo chị em bơi xuồng vớt bèo hoa dâu, cắt cỏ lác, rêu đầm mang về. Cứ một lớp bèo cói lại rải một lớp rơm rạ mục và bùn ngấu dưới đáy mương, vun thành từng đống cao ngang ngực rồi đắp lá chuối khô ủ kín lại. Đợi hơi nóng bên trong bốc lên âm ỉ làm rữa nát mọi thứ, ấy là lúc ta có lớp mùn nuôi lúa quý hơn vàng.”

Nghe lời cụ, cánh phụ nữ và người già chia nhau bơi thuyền nan luồn lách khắp các ngóc ngách đầm lầy. Hàng trăm gánh bèo hoa dâu mơn mởn, rong rêu xanh ngắt cùng cỏ lác tươi được vớt lên, chuyển về các gò đất ven bờ. Những đống bổi cao ngất mọc lên san sát. Chỉ sau ba ngày đêm kín gió, lớp rơm rạ và rong bèo bên trong đã lên men hoai ngấu, tỏa ra luồng hơi ấm hăng hắc mà ngọt dịu của xác cây mục rữa, biến thành thứ mùn đen nhánh, mềm xốp và mát rượi đầu ngón tay.

Sáng hôm sau, trên các bờ ruộng nhộn nhịp hẳn lên bởi tiếng cười đùa trong trẻo. Bé Mận buộc hai chỏm tóc củ tỏi lắc lư, đôi mắt đen láy rạng rỡ, lon ton gánh đôi thúng tre nhỏ xíu theo chân mẹ. Đám trẻ con trong làng đứa xách sọt, đứa bưng thúng, ríu rít như đàn chim non gánh từng vốc mùn bổi hoai rải đều khắp mặt ruộng vừa thau chua.

“Ông nội Khôi ơi, thúng bổi của cháu rải ở luống này đã khéo chưa ông?” Bé Mận chạy lại níu vạt áo cụ Khôi, gương mặt lấm lem bùn đất nhưng nụ cười tươi rói như hoa muống biển.

Cụ Khôi cúi xuống xoa đầu cô bé, đôi mắt già nua ánh lên niềm yêu thương vô bờ “Khéo lắm, Mận ngoan lắm. Rải lớp bổi này lên, gốc mạ non của con sẽ được đắp một lớp chăn êm ái, tha hồ uống nước ngọt mà lớn phổng phao.”

Lớp mùn hoai mục đen nhánh phủ đều trên mặt ruộng như một tấm đệm xốp mềm. Dưới bàn tay cần cù của bà con, lớp bổi không chỉ giữ cho rễ non luôn ẩm mát giữa trưa hè bỏng rát, mà còn như một lớp khiên ngăn chặn cái hơi chua chát độc địa từ tầng đất sâu tích tụ muôn đời không cho bốc ngược lên rễ lúa khi nắng hạn kéo dài.

Ngay sau lớp bổi xốp, những bó mạ non ủ từ giống lúa sạch phèn của chồng thím Lành được chuyền tay nhau cấy xuống. Từng hàng mạ xanh biếc thẳng tắp rủ nhau bén rễ, đâm chồi ngời ngời sức sống. Cả một trăm mẫu bãi trũng xưa kia rỉ phèn đỏ quạch như máu trâu, cỏ rác trơ trọi thối rữa, nay đã khoác lên mình tấm áo non tơ mỡ màng, thơm ngát mùi bùn ấm và phù sa mới.

Bóng chiều dần buông xuống trên tổng Bạch Nham. Hoàng hôn dát một dải lụa vàng óng ả lên ngút ngàn vạt đồng mạ non xanh biếc đang rì rào trong gió.

Cụ Vân Chiêu Khôi chống cây gậy trúc đứng trên đỉnh bờ đê cao, đưa mắt ngắm nhìn cánh đồng tít tắp chân trời. Nhìn những mái lều tranh xóm nghèo bắt đầu bay lên từng lọn khói lam chiều ấm cúng, lòng cụ dâng lên một niềm thanh thản, an yên lạ kỳ. Bao mồ hôi, bao nhọc nhằn của những thân phận cùng đinh lam lũ rốt cuộc đã thắp lên mầm sống diệu kỳ trên mảnh đất chết.

Bất chợt, một cơn gió nồm từ phía biển thổi thốc qua rặng phi lao. Ngọn gió cuốn theo luồng khí lạnh làm chòm râu bạc của cụ khẽ lay động.

Nụ cười trên môi cụ Khôi bỗng tắt lịm. Đôi mày bạc nhíu chặt lại khi sống mũi cụ bắt được một mùi vị lạ lùng xộc tới giữa không gian: không phải hương bổi mục ngai ngái quen thuộc, mà là mùi mặn chát nồng nặc pha lẫn vị tanh tưởi rợn người, cuồn cuộn bốc lên từ hướng con cống ngăn mặn đầu nguồn.

Bạn thích truyện này?

Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!

Hãy là người đầu tiên để lại đánh giá cho tác phẩm này.