Chương 3: Phép Thử Ba Phân Lửa
Gió lạnh đầu canh Mão rít qua khe liếp gian đúc nến, mang theo sương ẩm buốt giá của tiết cuối thu. Trên bệ đá ráp, vạt áo lam xám vẫn phủ kín mẩu nến tàn vớt về từ điện Minh Quang. Tư Đồ Ngọc Bình không chợp mắt suốt nửa đêm qua. Bàn tay nổi đầy gân guốc và sẹo bỏng của bà khẽ vén vạt áo, để lộ mẩu sáp xám xỉn nằm trơ trọi cạnh hai chiếc đế đồng con.
Thời gian của lão Cao chỉ còn tính từng ngày. Triều đình muốn một bản án nhanh gọn để xoa dịu hoàng gia, mà nội khố lại là nơi đứng mũi chịu sào. Nếu không tìm ra cội nguồn chân tướng, chiếc đầu bạc của bạn già bốn mươi năm ắt rụng xuống nền pháp trường.
Bà khom lưng, nhóm một mồi lửa nhỏ từ lò nung con góc xưởng. Tro trấu bén than đượm hồng, tỏa ra hơi ấm quen thuộc của xưởng thợ. Bà chậm rãi lấy chiếc hộp sắt cất dưới đáy rương đồ nghề, mở nắp rút ra một thỏi sáp ong rừng thượng hạng màu vàng mật — thứ sáp nguyên chất do chính tay bà tinh luyện từ mùa trước, vốn dùng làm mẫu chuẩn của Tư Đăng Cục. Dùng con dao gọt thợ gạt nhẹ, bà tách lấy một mẩu sáp ong chuẩn đặt lên chiếc đế đồng bên trái. Ở đế đồng bên phải, bà dùng đầu mũi dao nạo lấy một phần sáp từ mẩu nến thu ở điện Minh Quang.
Cạch một tiếng khẽ, then cài cửa nách bật mở. Tiểu Bạch rụt rè bước vào, hai mắt còn thâm quầng vì một đêm mất ngủ, tay ôm chiếc sọt tre đựng ống nứa châm đèn. Thấy sư phụ đã đứng trước bệ đá, con bé vội khép cửa, rón rén bước lại gần “Sư phụ… người dậy sớm thế? Ngoài sân sương muối dày lắm, con nghe ngóng bên ngoài, thị vệ cấm quân vẫn lùng sục ráo riết khắp các cổng ngõ.”
Tư Đồ Ngọc Bình không quay đầu lại, ngón tay thô ráp vẫn giữ chặt cán dao gọt: “Kệ họ lùng sục ngoài kia. Đóng chặt then gỗ lại, châm hai ngọn đèn dầu mồi trên giá kia cho lão.”
Tiểu Bạch chớp mắt, không dám hỏi nhiều, nhanh nhẹn quẹt đá lửa châm hai bấc đèn dầu nhỏ đặt ngay ngắn trước mặt bà.
“Nhìn cho kỹ,” bà cất giọng trầm thấp, phẳng lặng như mặt đá mài.
Bà dùng kẹp sắt gắp hai mẫu sáp đưa vào ngọn lửa đèn dầu cùng một lúc để bắt đầu phép kiểm sắc.
Mẩu sáp ong rừng bên trái vừa chạm lửa liền mềm ra rất nhanh, tỏa ngát hương ngọt thanh của mật hoa rừng pha lẫn mùi gỗ thông già. Bấc nến bùng lên một ngọn lửa vàng óng ả, ấm áp lạ thường. Ngọn đăng vươn thẳng tắp, cao chừng năm đến sáu phân, không hề lay lắt dù có luồng gió sớm luồn qua khe cửa. Dưới đáy chân đèn, tàn sáp chảy ra cuộn lại thành từng sợi tơ trắng tinh khiết, sạch bóng không một hạt sạn.
Trong khi đó, mẩu sáp cạo từ cây nến tàn bên phải lại phản ứng hoàn toàn khác biệt. Khối sáp quánh lại sền sệt, sôi lục bục rồi cháy chậm hơn nửa nhịp. Thay vì sắc vàng óng của sáp ong mật, ngọn đăng bên phải chỉ lụi tàn leo lét, ngọn lửa yếu ớt vươn lên chưa đầy ba đến bốn phân, màu sắc ngả sang sắc xanh lơ nhạt nhờ nhờ như mắt loài cá chết. Từ ngọn lửa lùn tịt ấy, một làn khói mỏng màu xám đục từ từ bốc lên, mang theo mùi tanh nồng của kim loại rỉ sét dội thẳng vào khứu giác.Tiểu Bạch vô thức đưa tay áo che mũi, lùi lại nửa bước: “Khói này… tanh nồng hệt như mùi lúc đêm ở điện Minh Quang! Sư phụ, sao ngọn lửa bên phải lại lùn tịt thế kia? Cả màu tàn nến nữa, cứ xanh xao như váng rêu đáy ao vậy?”
Tư Đồ Ngọc Bình buông kẹp sắt xuống mặt bàn đá, âm thanh khô khốc vang lên giữa gian xưởng tịch mịch “Sáp ong rừng thuần khiết thì cháy vàng, ngọn cao năm sáu phân, tàn trắng sạch. Đó là quy luật đất trời, trăm năm không đổi. Cây nến bên phải bị ép lùn xuống ba phân, lửa xanh khói tanh, là vì trong ruột sáp bị quấy lẫn bột chì.”
Bà chỉ ngón tay thô ráp vào vệt khói xám đang tản mác trên bệ đồng: “Chì nặng hơn sáp, dìm ngọn lửa không ngóc đầu lên nổi. Gặp ch* k*n gió thì khói chì chỉ khiến người ta váng đầu, tức ngực. Nhưng điện Minh Quang có luồng gió bắc lùa qua khe cửa, ép thẳng khói độc tụ lại một chỗ. Đại hoàng tử vốn mang chứng phế nhiệt từ nhỏ, lại uống rượu thuốc bổ trầm hương trước tiệc yến. Khói chì quyện chặt lấy chất trầm trong rượu, chẹn ngang cổ họng, khiến phế phủ co rút cấp tính. Người ngoài nhìn vào chỉ thấy hoàng tử đổ gục, liền tưởng nhầm là trúng phong.”
Tiểu Bạch há hốc mồm, hai vai run lên bần bật: “Trời ơi… vậy là có kẻ cố ý mượn nến giết người sao? Sư phụ, vậy… vậy chúng ta cầm mẩu nến này đến trình báo Thái y viện, hoặc đến nha môn kêu oan cho Cao tổng quản được không?”
“Hồ đồ!” Ánh mắt Tư Đồ Ngọc Bình đanh lại, giọng răn dạy lạnh buốt ghìm chặt đứa học trò nhỏ. “Mẩu nến này dài chưa đầy hai đốt ngón tay, không nhãn không triện. Con cầm thứ này ra ngoài, chưa kịp bước qua cửa Thượng Thiện Môn thì người ta đã gán cho con tội trộm cắp vật phẩm đại yến rồi đem chém đầu thị chúng. Lời nói của một đứa trẻ học việc và một lão thợ già có nặng bằng kết luận của Thái y lệnh không? Có đấu lại quyền uy của những kẻ đứng sau màn trướng hay không?”
Tiểu Bạch cắn chặt môi dưới, nước mắt lưng tròng, lí nhí gật đầu: “Con… con hiểu rồi. Con xin lỗi sư phụ. Từ nay con không dám nói xằng bậy nữa.”
“Biết sợ là tốt. Giữ miệng cho kín, thấy gì trong gian xưởng này cũng phải chôn chặt dưới đáy lòng,” bà cụ tám mươi ba tuổi thở dài một tiếng, ánh mắt dịu lại đôi phần nhưng nét mặt vẫn đăm chiêu khôn nguôi.
Bà thổi tắt ngọn đèn mồi, lấy khăn vải bọc kỹ mẩu sáp nhiễm chì rồi nhét sâu vào túi áo trong. Phép kiểm sắc ngọn lửa sáu mươi năm trong nghề đã giúp bà nhìn thấu cơ chế mưu hại. Nhưng một phép thử trong xưởng kín không thể làm chứng lý đanh thép trước mặt đình thần. Kẻ ra tay dám dùng phương thức hiểm độc này tất phải chuẩn bị cả một mẻ nến lớn, và lô sáp trộn chì kia không thể nào tự nhiên bay vào điện Minh Quang. Nó phải xuất phát từ một nơi, đi qua những bàn tay ký nhận, ghi sổ cụ thể.
Muốn cứu mạng lão Cao đang nằm trong tử ngục thiên lao, bà lão thợ nến tám mươi ba tuổi không thể ngồi chờ phép màu. Bà phải tìm cách đặt chân vào nơi nghiêm mật và được canh phòng cẩn mật nhất của hoàng thành: nội khố.
Bạn thích truyện này?
Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!
