Chương 20: Cửa Hẹp Ngự Thư Phòng
Bóng lưng Lệ phi cùng đám nội thị khuất hẳn sau khúc quanh tường thành đỏ thẫm. Hai tên thị vệ Thượng Thiện Giám mặt sắt đen sì liền tiến tới, tra then cài bằng gỗ lim nặng trịch nhốt Tư Đồ Ngọc Bình lại bên trong sảnh phụ Thượng Thiện Môn. Căn phòng hẹp lạnh buốt, bốn bề vách đá ẩm mốc, chỉ le lói chút ánh sáng xám xịt lọt qua khe cửa sổ con chấn song sắt.
Bà lão thợ nến không hề tỏ vẻ bối rối. Bà khẽ phủi bụi đá hoa cương bám trên vạt áo lam xám, tự tìm một góc phản gỗ ngồi xuống, hai bàn tay thô ráp đan vào nhau đặt trên đầu gối. Tiếng chiêng canh Năm ngân vọng qua vòm ngói sâu thẳm vừa dứt, thì ngoài hành lang bỗng vang lên tiếng bước chân dồn dập, gấp gáp khác thường.
“Thánh chỉ truyền tới! Mở cửa!”
Tiếng then cài rít lên chói tai. Cánh cửa gỗ dày bật mở, để lộ bóng dáng quen thuộc của Thái y lệnh Tề Hoài Khiêm trong bộ triều phục màu lam đậm, ống tay áo còn vương mùi thảo mộc khô. Phía sau ông không phải thị vệ của Thượng Thiện Môn, mà là hai tên cấm quân Ngự tiền mang giáp bạc, tay cầm trường đao sáng quắc.
Tề Hoài Khiêm bước nhanh vào phòng, hơi thở phả ra khói trắng giữa làn gió buốt. Ông ghé sát tai bà, giọng trầm thấp nhưng dứt khoát “Sớ mật của bổn quan dâng lên lúc nửa đêm đã tới tay Hoàng thượng. Bệ hạ xem xong liền hạ lệnh phong tỏa tin tức, chuẩn tấu mở cuộc tra vấn kín tại Ngự Thư Phòng trước buổi thiết triều hôm nay. Bổn quan lấy danh nghĩa Thái y viện bảo lãnh, xin Bệ hạ cho lão nhân gia vào điện với tư cách thợ nghề giải thích đặc tính vật liệu.”
Tư Đồ Ngọc Bình chớp mắt, khóe miệng khẽ mấp máy “Tiểu Bạch và đồ đạc…”
“Đã an toàn,” Tề Hoài Khiêm gật đầu, đưa tay đỡ lấy cánh tay gầy guộc của bà. “Con bé cùng khay nến đã được cấm quân ngự tiền bí mật áp giải tới trước thềm cung cấm chờ lệnh. Chúng ta phải đi ngay, Tô tần nương chưa kịp trở tay đâu.”
Bà lão đứng dậy, khớp gối già nua khẽ kêu lạo xạo. Tám mươi ba năm sống trên đời, sáu mươi năm luồn cúi qua các xưởng nến hoàng gia, đây là lần đầu tiên bà bước đi trên con đường dẫn thẳng tới trung tâm quyền lực tối cao của Đại Phong triều, không phải với tư cách kẻ dọn dẹp tàn đăng, mà là người mang ánh sáng đi đòi lại lẽ phải.
Rời khỏi Thượng Thiện Môn, đoàn người rảo bước xuyên qua hành lang lát đá hoa cương hun hút gió. Trước ngưỡng cửa Ngự Thư Phòng, bóng dáng nhỏ thó của Trầm Tiểu Bạch hiện ra trong làn sương sớm. Con bé đứng nép bên cột đồng, hai tay ôm chặt khay gỗ sơn đen phủ tấm lụa điều đỏ thắm. Mười hai cây nến kiểm sắc – bằng chứng đúc bằng cả tính mạng và kinh nghiệm cả đời của Ngọc Bình – nằm im lìm dưới lớp vải lụa ấy.
“Sư phụ!” Tiểu Bạch thấy bà liền khẽ reo lên một tiếng, vành mắt đỏ hoe vì thức trắng đêm, trên trán còn lấm lem muội than chưa kịp lau sạch.
“Đứng nghiêm, giữ chặt khay,” Ngọc Bình hạ giọng căn dặn, ánh mắt dừng lại trên bàn tay nhỏ bé của đứa trẻ. “Bước qua cánh cửa này, không có lệnh của Bệ hạ thì không được ngẩng đầu.”
Viên thị vệ trưởng ngự tiền bước tới, rút thanh đoản kiếm bằng bạc gạt mép lụa điều, tỉ mỉ rà soát từng cây nến từ chân đến bấc, kiểm tra từng đường vân và khe hở của khay gỗ. Sau ba lượt xác nhận không giấu giếm ám khí hay kịch độc giấu ngầm, gã mới gật đầu, cất giọng the thé truyền xướng “Thái y lệnh Tề Hoài Khiêm dẫn nhân chứng Tư Đăng Cục tiếp kiến!”
Cánh cửa gỗ tử đàn chạm trổ mây cuốn nặng nề mở ra. Hơi ấm từ lò sưởi than hoa tỏa ra ngùn ngụt, quyện chặt lấy mùi hương bách diệp và long diên hương ngào ngạt, tạo nên một không khí thâm nghiêm, ngột ngạt đến nghẹt thở.
Tư Đồ Ngọc Bình cúi gập lưng, bước từng bước ngắn, chắc nịch qua bậu cửa cao vút. Ánh mắt lòa của bà chỉ nhìn xuống nền gạch tráng men xanh biếc dưới chân. Tiểu Bạch run rẩy ôm khay nến theo sát sau lưng sư phụ, bước chân lí nhí như chim sẻ non.
Trên sập ngự bọc gấm vàng thêu rồng cuộn, Hoàng đế Phong Khải Nguyên ngồi uy nghiêm. Đã sáu mươi tám tuổi, đầu tóc muối tiêu giấu dưới thiên bình kim quan, gương mặt đẫy đà thường ngày phúc hậu nay đanh lại, ánh mắt sắc như chim ưng đang nhìn xoáy xuống những kẻ vừa bước vào. Đứng hai bên ngự tọa là ba vị đại thần phụ chính tuổi trạc lục tuần, áo thụng đai ngọc, mày nhíu chặt, ánh mắt soi mói đầy vẻ ngờ vực khi trông thấy một bà lão thợ già lam lũ và một đứa trẻ học việc xuất hiện chốn cơ mật này.
“Thần, Thái y lệnh Tề Hoài Khiêm, khấu kiến Bệ hạ.”
“Lão thợ nến Tư Đồ Ngọc Bình cùng đồ đệ Trầm Tiểu Bạch, dập đầu bái kiến Bệ hạ.”Bà lão quỳ rạp người xuống mặt gạch men lạnh buốt, dập đầu đúng theo quy củ của hạng tiện dân thấp kém nhất hoàng thành. Sống lưng khòm của bà dán sát mặt sàn, nhưng hai bàn tay đặt trên gạch không hề run rẩy.
Hoàng đế Phong Khải Nguyên không lập tức cho bình thân. Ánh mắt ông lướt qua bản sớ mật của Tề Hoài Khiêm đang mở sẵn trên án thư, rồi dừng lại trên tấm lưng còng phủ áo lam xám của Ngọc Bình. Giọng ông trầm đặc, mang theo uy quyền đè nặng gian phòng “Tề khanh dâng sớ mật, nói rằng cái chết của Đại hoàng tử đêm Trung Thu có uẩn khúc lớn, không phải do phong hàn trúng phong phát tác đơn thuần, mà bắt nguồn từ khói nến trước bàn tiệc. Lại nói, trong cả hoàng cung này, chỉ có một lão thợ nến tám mươi ba tuổi mới giải thích được manh mối ấy.”
Ngừng một nhịp, Hoàng đế gằn từng tiếng “Lão thợ nến, ngẩng đầu lên.”
Tư Đồ Ngọc Bình từ tốn nâng người dậy, hai mắt vẫn buông rèm nhìn xuống mặt thềm ngự, giọng nói bằng phẳng như mặt đá mài “Khởi bẩm Bệ hạ. Lão chỉ là kẻ thợ hèn, sáu mươi năm qua chỉ biết bổ củi, nấu sáp, se bấc đèn. Chuyện triều chính cao sâu lão không dám lạm bàn, nhưng ngọn lửa cháy thế nào, sáp bốc khói ra sao, tàn tro đọng màu gì, mắt lão và mũi lão không bao giờ nhìn lầm.”
Một vị đại thần râu dài bên tả khẽ cau mày, cất giọng chất vấn “Càn rỡ! Đại hoàng tử bạo băng chốn đại yến, Thái y viện đã nghiệm thi, Tam Pháp Ty đã thụ lý, án xử Tổng thái giám Cao Bỉnh Trung sơ suất nhập kho đã định ngày hành hình. Ngươi lấy thân phận gì mà dám bảo ngọn nến có oan tình?”
Tư Đồ Ngọc Bình không nao núng, điềm tĩnh đáp “Bẩm đại nhân. Đêm rằm tháng Tám, chính tay lão là người thu dọn cây nến tàn trước án của Đại hoàng tử trong điện Minh Quang. Ngọn lửa đêm ấy không cao năm phân vàng ấm như sáp ong rừng mười hai sơn trang tiến cống, mà lụi thấp chỉ ba phân, tàn nến xanh lơ, bốc mùi tanh kim loại. Đó là dấu hiệu của sáp bị pha chì. Khói chì gặp luồng gió bắc điện Minh Quang tụ lại một chỗ, quyện cùng rượu thuốc trầm hương Đại hoàng tử dùng trước tiệc, mới kích phát chứng phế nhiệt tắc nghẽn tức thì.”
Tề Hoài Khiêm lập tức bước lên một bước, chắp tay tấu “Bẩm Bệ hạ, y lý quả đúng như lời lão chưởng đăng vừa tấu. Thần đã tra cứu y tịch cổ truyền, khói chì chìm thấp kết hợp dược tính trầm hương quả thực có thể gây nghẹt thở cấp tính trong chớp mắt, triệu chứng bên ngoài giống hệt trúng phong. Thần có tội vì đêm ấy sơ suất kết luận vội vàng, kính xin Bệ hạ xem xét chứng cứ kiểm sắc của Tư Đăng Cục.”
Không khí trong Ngự Thư Phòng bỗng chốc im phăng phắc. Ba vị đại thần đưa mắt nhìn nhau, sắc mặt dần biến đổi. Hoàng đế Phong Khải Nguyên im lặng nhìn chằm chằm vào bà lão thợ nến, lồng ngực khẽ phập phồng dưới lớp hoàng bào.
“Mang vật chứng lên,” Hoàng đế trầm giọng phán.
Tiểu Bạch run rẩy quỳ tiến lên hai bước, cẩn trọng đặt khay gỗ sơn đen lên chiếc kỷ trà bằng đá trước án ngự rồi lùi lại. Tư Đồ Ngọc Bình vươn đôi bàn tay đầy vết sẹo bỏng cũ, nhẹ nhàng vén tấm lụa điều sang một bên.
Mười hai cây nến dài đúng bảy thốn, xếp thẳng tắp thành hàng hiện ra trước mắt quân vương. Những thân nến đúc bằng khuôn đồng nhẵn bóng, nhưng sắc độ lại phân chia rõ rệt: có cây vàng trong óng ánh như mật ong rừng, có cây xám đục gợn hạt sần sùi. Dưới chân mỗi cây đều khắc một ký hiệu nghề bí truyền mộc mạc.
Bà lão rút từ túi áo ra chiếc đánh lửa bằng đá hoa mai quen thuộc, ngẩng đôi mắt già nua nhìn thẳng về phía bậc đế vương.
Hoàng đế Phong Khải Nguyên nhìn hàng nến trên khay đá, ngón trỏ đeo chiếc nhẫn ngọc bích chạm rồng khẽ gõ nhẹ xuống mặt bàn ngự ba tiếng “cộc, cộc, cộc” khô khốc, rồi cất giọng trầm đặc xé toạc sự tĩnh mịch “Châm cây nến đầu tiên.”
Bạn thích truyện này?
Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!
