Chương 17: Mười Hai Cây Nến Kiểm Sắc

Tiếng đập cửa chát chúa dội vào bức vách gỗ của phòng viện sự khiến lớp bụi mỏng trên xà ngang khẽ rơi lả tả. Giọng tên thái giám ngoài hành lang the thé giục giã, lẫn trong tiếng gió bấc rít qua khe liếp.

Tề Hoài Khiêm biến sắc, nhưng bàn tay thầy thuốc nhanh chóng ghì chặt phong bì sớ niêm phong sáp đỏ xuống mặt bàn. Ông liếc nhìn Tư Đồ Ngọc Bình, ngón tay chỉ về phía cánh cửa nách thông ra vườn thuốc phía sau viện.

Bà lão không hoảng loạn. Tư Đồ Ngọc Bình khẽ gật đầu, ôm chặt tráp gỗ nhỏ bên sườn, nép mình sau tấm bình phong vẽ hình thảo mộc. Động tác của bà nhẹ như khói thoảng, gót giày vải lướt êm ru trên nền gạch hoa. Trước khi lách qua khung cửa hẹp mở hé ra bóng tối dày đặc, bà kịp nghe tiếng Tề Hoài Khiêm hắng giọng đanh thép đáp lại ngoài sảnh trước “Bổn quan đang kê dở phương thang trị dịch, lập tức lấy hòm thuốc theo các ngươi sang điện Thược Dược thỉnh mạch cho Lệ phi nương!”

Bóng tối của Ngự Hoa Uyển lúc đầu canh tư buốt lạnh như ngâm trong nước đá. Gió bấc luồn qua các khóm cúc tàn, thổi bay vạt áo lam xám. Tư Đồ Ngọc Bình lần theo con đường lát đá dăm quen thuộc ven tường rào phía tây, tránh xa những trạm gác đèn lồng đỏ của cấm quân. Sáu mươi năm luẩn quất chốn hoàng cung, đôi chân bà đã thuộc từng chỗ lồi lõm của nền đá cung cấm, từng đoạn ngách hẹp khuất bóng lính tuần.

Về đến Tư Đăng Cục, cánh cửa xưởng nến khép hờ lập tức hé mở một khe nhỏ. Trầm Tiểu Bạch đứng nép bên trong, hai bím tóc rủ xuống bờ vai gầy, đôi mắt tròn xoe ánh lên nỗi mừng rỡ tột cùng. Con bé vội đỡ lấy khuỷu tay bà, ghé tai thì thầm “Sư phụ! Người về bình an rồi… Con canh chừng lò than suốt từ nửa đêm, than củi giữ lửa âm ỉ đúng độ.”

“Đóng then cài lại.” Tư Đồ Ngọc Bình hạ giọng, bước đến bên bàn đá. “Chuẩn bị khuôn đồng mười hai rãnh. Đêm nay, lão phải làm xong toàn bộ mười hai cây nến.”

Tiểu Bạch không hỏi thêm một lời, nhanh nhẹn chạy lại góc xưởng lấy ra chiếc khuôn đồng thau dài, bên trong xẻ đúng mười hai rãnh thẳng tắp, nhẵn bóng không tì vết.

Tiểu Bạch vội móc túi áo lấy chiếc chìa khóa đồng thau trao lại cho sư phụ, đón lấy tráp gỗ để bà mở nắp rương ngầm dưới bệ nung. Mười hai mẫu sáp thu thập rải rác bấy lâu được bày ra trên mặt bàn đá mài: khối sáp ong rừng vàng óng của lô triều cống chuẩn từ bốn mươi năm trước; các mẩu sáp lấy từ nội khố rải rác qua từng tháng; mảnh sáp cạo từ chân đèn điện Minh Quang nhuốm màu xám xịt; vụn sáp xỉn gợn sượng lấy từ đôn sứ điện Thược Dược; và cả mẩu sáp khói sương đối chứng mang dấu tích phường buôn họ Tô ngoài khu Đông Thương.

“Nhìn cho kỹ từng thỏi sáp này.” Tư Đồ Ngọc Bình cầm chiếc nạo sắt nhỏ cạo nhẹ lên bề mặt từng khối phôi sáp, giọng trầm tĩnh vang lên giữa gian xưởng tĩnh mịch. “Sáp ong chuẩn của rừng già khi cạo sẽ cuộn thành từng sợi mỏng dẻo dai, sắc vàng tươi tắn, ngửi có mùi mật hoa nồng ấm. Còn sáp đã bị quấy bột chì thì giòn vụn, mặt cắt lấm tấm hạt xám đục như cát mịn, nặng tay một cách bất thường.”

Bà đặt chiếc nồi đồng đáy dày lên kiềng sắt, gạt bớt tro nóng để lửa than chỉ l**m nhẹ quanh đáy nồi. Nhiệt độ nấu sáp đòi hỏi sự kiên nhẫn tột cùng của người thợ già. Lửa quá to sáp sẽ khét và biến màu, lửa quá yếu thì sáp không chảy đều, tạp chất không thể lắng xuống đáy.

Bà dùng một chiếc kẹp đồng gắp từng thỏi sáp theo thứ tự định sẵn cho vào nồi nấu riêng biệt. Khi sáp tan chảy thành dòng chất lỏng sóng sánh, bà không vội rót ngay mà để lắng trong nửa khắc. Đôi mắt lão luyện nheo lại quan sát từng gợn váng nổi trên mặt chất lỏng. Ở nồi nấu mẩu sáp điện Minh Quang và sáp điện Thược Dược, một lớp màng xám chì mờ đục nhanh chóng kết tụ lại, bốc lên mùi tanh lợm giọng thân thuộc.

“Bấc đèn đâu?” Bà hỏi khẽ.

Tiểu Bạch vội dâng lên bó tim bấc bện bằng sợi gai đay ba tao đã ngâm qua nước muối và phơi khô ba lượt sương đêm. Đây là quy cách nghiêm ngặt nhất của nến ngự dụng triều Đại Phong, giúp sợi bấc không bị rụng tàn bừa bãi khi cháy.

Đôi bàn tay gầy guộc chằng chịt vết sẹo bỏng của bà lão chuyển động nhịp nhàng, chuẩn xác đến từng phân. Bà luồn từng sợi tim bấc vào tâm điểm của mười hai rãnh khuôn đồng, dùng then gỗ chốt chặt hai đầu sao cho sợi bấc căng thẳng tắp, không lệch nửa phân. Một cây nến chuẩn mực bắt buộc tim bấc phải nằm chính giữa tâm; chỉ cần lệch nửa phân, ngọn lửa sẽ cháy nghiêng, sáp chảy tràn và không thể quan sát chính xác độ cao ngọn lửa.Bà nghiêng chiếc muôi đồng nhỏ, nhẹ nhàng rót dòng sáp nóng vào từng rãnh khuôn “Rót sáp phải nín thở, dòng chảy không được đứt quãng. Để bọt khí lọt vào thân nến thì ngọn lửa sẽ nổ lép bép, làm hỏng phép kiểm sắc.”

Tiểu Bạch đứng bên cạnh, hai tay nắm chặt mép tạp dề, nín thở nhìn dòng sáp nóng từ từ dâng đầy miệng khuôn. Hơi ấm của sáp ong phả lên gương mặt non nớt của cô bé, hòa cùng mùi tanh kim loại nhàn nhạt bốc lên từ những rãnh sáp pha chì.

Sau khi lớp sáp nguội dần và co rút lại theo độ lạnh của sương đêm, mặt trên cùng hơi lõm xuống. Tư Đồ Ngọc Bình lại cầm muôi châm thêm một lớp sáp mỏng để mặt đáy nến phẳng lì.

Gần nửa canh giờ trôi qua trong im lặng tuyệt đối. Tiếng sáp đông đặc phát ra những tiếng cạch rất khẽ bên trong thành đồng.

Bà lão nhẹ tay tháo then chốt, gõ nhẹ chiếc vồ gỗ vào sống khuôn. Mười hai cây nến lạp thụ trượt ra khỏi rãnh đồng, nằm song song trên tấm vải lụa thô. Thân nến thẳng tắp, dài đúng bảy thốn, đường kính đều đặn như một. Nhưng màu sắc của chúng lại có sự phân hóa rành rọt: những cây nến đúc từ sáp rừng thuần khiết mang sắc vàng mật ong ấm áp, mặt ngoài bóng mịn; còn những cây đúc từ sáp điện Minh Quang, điện Thược Dược và sáp họ Tô lại mang màu vàng xỉn pha xám chì, bề mặt sần sùi gợn hạt.

Tư Đồ Ngọc Bình cầm lấy con dao trổ mũi nhọn bằng thép nguội. Dưới ánh đèn leo lét, mũi dao của bà lướt trên lớp sáp cứng, khắc chìm từng ký hiệu nghề bí truyền vào phần chân mỗi cây nến: hình ngọn lửa ba ngọn cho sáp ngự khố chuẩn; hình chiếc lá cho sáp rừng miền tây; hình đóa thược dược cách điệu nẹp góc cho sáp lấy từ điện Lệ phi; và một dấu chấm tròn sâu hoắm cho mẫu nến tàn hiện trường bạo băng của Đại hoàng tử.

Mười hai ký hiệu nghề cổ xưa ấy chỉ có những người thợ cả đời gắn bó với lò sáp như bà mới có thể đọc hiểu. Chúng là bản cáo trạng không lời, là chuỗi mắt xích liên hoàn vạch trần con đường tuồn độc dược từ mười hai sơn trang miền tây vào tận án ngự thiện của bậc hoàng tử.

Bà xếp cẩn thận mười hai cây nến kiểm sắc vào chiếc khay gỗ sơn đen tuyền. Mười hai thân nến nằm ngay ngắn, phẳng phiu, ánh lên vẻ uy nghiêm lạnh lẽo dưới màn đêm.

“Sư phụ, bộ nến này… thật sự có thể cứu được Cao tổng quản sao?” Tiểu Bạch khẽ hỏi, giọng run run vì xúc động lẫn âu lo.

Bà lão không ngẩng đầu, ngón tay nhẹ nhàng vuốt dọc thân cây nến mang dấu thược dược “Lửa không biết nói dối, con bé à. Người có thể đổi trắng thay đen, quyền thế có thể bịt miệng thiên hạ, nhưng ngọn lửa cháy lên màu gì thì trời đất đều nhìn thấy rõ. Đây không chỉ là mạng sống của lão Cao, mà là danh dự của nghề này. Lão sống tám mươi ba năm, không thể để thứ sáp ô uế này nhuộm đen ngai vàng.”

Bà cúi người, thổi tắt ngọn lửa lò than đang tàn dần. Tàn than đỏ lịm đi, căn xưởng chìm vào bóng tối mông lung của thời khắc chuyển giao trời đất.

Đúng lúc đó, từ hướng Thừa Thiên Môn, một hồi chuông báo canh Năm nặng nề ngân vang, xé toạc màn sương sớm buốt giá. Nhưng chưa dứt tiếng chuông, tiếng bước chân rầm rập của hàng chục đôi ủng da cùng tiếng kim loại va chạm lách cách đã dội thẳng vào cổng hoa của Tư Đăng Cục.

Ánh đuốc bập bùng hắt qua khe cửa gỗ, in những vệt đỏ quạch ma quái lên vách xưởng. Bên ngoài vang lên tiếng quát the thé đầy sát khí của Chu Hán Phong cùng đám nội thị Thượng Thiện Giám “Người bên trong mở cửa mau! Phụng mệnh Thượng Thiện Giám tra xét gian tế lén dùng vật liệu quốc khố!”

Bạn thích truyện này?

Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!

Hãy là người đầu tiên để lại đánh giá cho tác phẩm này.