Chương 15: Bóng Nắng Cuối Gian Xưởng

Cánh cửa liếp vừa khép lại sau lưng, bọc tay nải nhỏ tuột khỏi tay rơi bịch xuống nền gạch nung. Trầm Tiểu Bạch không kìm được nữa, òa lên khóc nấc, lao tới ôm chầm lấy vạt áo lam xám của Tư Đồ Ngọc Bình.

Hơi ấm quen thuộc đượm mùi sáp ong rừng và khói bách hương xộc vào cánh mũi, cuốn phăng nỗi khiếp đảm nghẹn ứ suốt một ngày một đêm trong lồng ngực con bé. Toàn thân Tiểu Bạch run rẩy như chiếc lá non trước gió bấc, hai bàn tay túm chặt lấy vạt áo người thợ già, trán vùi vào hõm vai gầy guộc.

“Sư phụ… con về được rồi… con sợ lắm…” Giọng con bé nghẹn ngào, lẫn trong tiếng nấc cụt. “Ở gian buồng phụ điện Thược Dược, bọn họ nhốt con trong tối, bên ngoài có thị vệ canh chừng. Trưa nay, lúc con bị dẫn ra thềm gạch quét lá rụng, con nghe thấy… con vô tình nghe thấy Chu giám kiểm nói chuyện với Tô tần nương qua rèm the!”

Tư Đồ Ngọc Bình không gạt con bé ra. Bàn tay khô ráp, đầy những vết chai sẹo vì sáp nóng khẽ đặt lên lưng Tiểu Bạch, vỗ nhè nhẹ theo từng nhịp thở ngắt quãng. Đợi cơn run rẩy của đệ tử lắng bớt, bà nắm lấy cổ tay con bé, dắt lại gần bệ lò.

Đó là chiếc ghế đẩu bằng gỗ thị đã nhẵn bóng qua mấy chục năm kê cạnh lò nung. Bình thường, đây là chỗ ngồi bất khả xâm phạm của riêng Lão chưởng đăng; ngay cả phụ việc lâu năm cũng chỉ được phép đứng bưng khuôn, nghe bà điểm từng lỗi bấc cong hay sáp nguội không đều. Nhưng lúc này, Tư Đồ Ngọc Bình lại ấn vai Tiểu Bạch ngồi xuống chiếc ghế ấy.

Bà khom lưng, gạt tàn than đỏ trong hốc lò, bắc lên đó chiếc niêu đồng nhỏ đựng nước suối ngâm mấy lát gừng già. Trong chiếc bát sành sứt mép đặt trên kệ, bà gạt vào hai thìa đường mía nâu thẫm. Nước sôi lăn tăn, bốc lên làn khói thơm ấm nồng vị cay ngọt.

“Uống đi.” Bà bưng bát nước đường gừng ấm đặt vào đôi bàn tay đang cóng lạnh của Tiểu Bạch. “Uống cho ấm bụng rồi hãy nói.”

Tiểu Bạch run rẩy bưng bát húp từng ngụm nhỏ. Dòng nước ngọt ấm chảy qua cổ họng xua tan đi cái lạnh buốt của ráng chiều cuối thu. Con bé đặt bát xuống mép bàn đá, giơ hai cổ tay hằn đỏ những vết bầm do đám cung nhân điện Thược Dược siết chặt lúc áp giải.

Tư Đồ Ngọc Bình lấy từ trên kệ đồ nghề xuống chiếc hũ sáp ong nấu dầu mè và rễ bạch chỉ. Những ngón tay thô ráp của bà miết lấy một mẩu sáp mềm, thoa đều lên vùng da bầm tím của Tiểu Bạch. Hơi sáp dịu nhẹ ngấm vào da thịt, làm dịu hẳn cơn đau nhức nhối.

“Nói đi, con đã nghe được những gì?” Bà cất giọng bằng phẳng, nhưng ánh mắt nhìn thẳng vào mắt con bé.

Tiểu Bạch nuốt khan, hạ thấp giọng xuống mức nhỏ nhất: “Chu giám kiểm bảo với Tô tần nương rằng văn thư Thượng Nghi Cục đòi người ráo riết quá, không thể giữ con thêm kẻo lộ chuyện. Chu giám kiểm còn nói… toàn bộ cuốn sổ ghi chép xuất nhập nội khố của nửa năm trước cùng các chứng từ đối chiếu của mười hai sơn trang miền tây, ông ta đã cho người gom lại niêm phong trong kho riêng. Đêm mai, lợi dụng lúc cấm quân đổi gác trước đại tế thu phân, ông ta sẽ phóng hỏa thiêu rụi toàn bộ gian kho ấy. Thiêu sạch rồi thì Cao lão thái giám có trăm miệng cũng không cãi được nữa, phiên xử trảm ngày hai mươi lăm tháng Tám sẽ định đoạt chắc chắn!”

Gian xưởng chìm vào im lặng. Tiếng than nổ lách tách trong lò nung vang lên khô khốc.

Tiểu Bạch nhìn sư phụ, lòng thắt lại: “Sư phụ, bọn họ muốn thiêu hủy hết sổ sách gốc. Nếu kho cháy rụi, chúng ta làm sao cứu được Cao lão thái giám?”

Tư Đồ Ngọc Bình đặt hũ sáp xuống bàn, ánh mắt nhìn ra khoảng sân nhỏ nơi bóng nắng cuối ngày đang lùi dần sau bức tường thành xám ngắt. Lưng bà hơi khòm xuống, nhưng đôi vai gầy vẫn giữ một dáng vẻ trầm tĩnh lạ lùng.

“Kẻ muốn đốt lửa trong bóng tối thường là kẻ sợ ánh sáng nhất.” Bà nói, giọng chậm rãi, như đang giảng một bài học nghề nến. “Con có biết vì sao ngọn đèn dầu để giữa gió lớn thì tắt, nhưng cây nến lạp thụ bấc gai đay tẩm muối lại đứng vững không?”

Tiểu Bạch lắc đầu, hai mắt tròn xoe nhìn bà.“Vì sáp ong rừng chảy ra để giữ tim nến không bị cháy rụi quá nhanh, còn tim nến giữ ngọn lửa không bị lụi tàn. Cả hai nâng đỡ nhau cho đến khi cháy cạn giọt sáp cuối cùng.” Bà đưa tay vuốt mái tóc tết hai bím lấm tấm bụi của con bé. “Nghề của chúng ta là nghề giữ ánh sáng cho cung cấm. Sáu mươi năm qua, lão đã thấy bốn đời chủ nhân bước lên ngai vàng rồi lại nằm xuống dưới nấm mồ. Vàng bạc, tước vị, lời xưng tụng… tất cả đều tan biến như khói nến sau bữa tiệc tàn. Chỉ có sự thật và ân nghĩa là còn lại.”

Lần đầu tiên kể từ ngày Tiểu Bạch bước chân vào xưởng, con bé mới thấy sư phụ nói nhiều đến thế. Không còn vẻ cộc lốc, kiệm lời của một bà lão thợ già khó tính, giọng bà ấm áp và sâu thẳm.

“Bốn mươi năm trước, khi lão Cao mới vào nội khố còn lão chân ướt chân ráo nhận chức thợ cả, có một mùa đông bão tuyết làm sập mái kho nguyên liệu. Sáp ong hoàng gia bị ẩm mốc, nếu bẩm báo lên, cả ty nến sẽ bị xử trảm vì tội khinh mạn vật phẩm cung đình. Chính lão Cao đã thức trắng ba đêm trong tuyết lạnh, tự tay dùng lò than sấy từng cân sáp, giấu giếm cho ty nến qua khỏi kiếp nạn. Bốn mươi năm nay, ông ấy chưa từng đòi một đồng tiền kẽm, chưa từng coi lão như một đứa ở biết đúc nến. Lão nợ ông ấy một mạng.”

Bà đứng dậy, bước chầm chậm đến bên kệ tủ gỗ mục góc xưởng. Từ dưới đáy một hũ sáp phế phẩm phủ đầy bụi, bà rút ra một sợi dây gai nhỏ xâu chiếc chìa khóa bằng đồng thau đã lên nước bóng loáng.

Bà quay lại, nắm lấy bàn tay còn vương mùi thuốc gừng của Tiểu Bạch, đặt chiếc chìa khóa vào lòng bàn tay con bé rồi gập từng ngón tay nhỏ lại.

“Cầm lấy.” Giọng bà nghiêm lại.

“Sư phụ… đây là…” Tiểu Bạch bối rối.

“Chìa khóa mở chiếc rương ngầm dưới bệ nung.” Bà nhìn thẳng vào mắt con bé, từng lời rành rọt. “Trong đó có sáu cây nến kiểm sắc lão vừa đúc xong, có mảnh biên lai Tô Ký Lạp Trang con mang về, và trong lòng khối phôi sáp năm mươi cân làm chân đế kê khuôn góc buồng có cuốn sổ da cừu ghi chép xuất nhập riêng của lão Cao.”

Tiểu Bạch giật mình, chiếc chìa khóa đồng bỗng nặng trĩu như một khối sắt nung đỏ: “Sư phụ giao cho con làm gì? Người… người định đi đâu?”

“Nghe cho kỹ đây, Bạch.” Bà nắm chặt lấy bờ vai nhỏ của con bé, ánh mắt sắc như lưỡi dao cạo sáp. “Cây kim trong bọc không thể giấu mãi. Lệ phi đã muốn đốt kho phi tang, nghĩa là bà ta biết thời gian không còn nhiều. Ngày mai là mười chín tháng Tám, trước khi gian kho kia biến thành tro bụi, lão phải đem sự thật đến đúng nơi cần đến. Đêm nay lão sẽ đến Thái y viện tìm Tề thái y.”

“Nhưng ngoài kia đầy tai mắt của Chu giám kiểm!” Tiểu Bạch run giọng, nước mắt lại trào ra. “Nếu người bị bắt thì sao?”

“Nếu canh Dần sáng mai lão chưa trở về,” Tư Đồ Ngọc Bình bình thản ngắt lời con bé, thanh âm không một chút gợn sóng, “con tuyệt đối không được bước chân ra khỏi Tư Đăng Cục. Cứ đóng chặt cửa, tiếp tục xe bấc đôi cho đại tế thu phân như thường lệ. Đến sáng ngày hai mươi, khi xe lễ vật của Thượng Nghi Cục đến nhận hàng, con hãy lấy toàn bộ đồ vật trong rương ngầm, theo chân đoàn người tiến thẳng vào sảnh ngoài Nội Vụ Phủ, giao tận tay cho quan Chưởng sự trước mặt các vị quan giám sát. Thẻ bài nghiệp vụ của con là bùa hộ mệnh, trước giờ đại tế, không ai dám giết một thợ phụ mang lễ vật tế trời. Con nhớ rõ chưa?”

Tiểu Bạch cắn chặt môi đến rớm máu, nhìn khuôn mặt nhăn nheo nhưng vững như bàn thạch của người thầy già. Con bé hiểu, những lời dặn dò này không phải một sự sắp đặt bình thường, mà là sự phó thác tính mạng.

Con bé quệt nước mắt, run rẩy gật đầu: “Con nhớ rồi… Con sẽ làm đúng như lời sư phụ dặn.”

Tư Đồ Ngọc Bình khẽ mỉm cười — nụ cười hiếm hoi làm giãn những nếp nhăn sâu hoắm nơi khóe mắt. Bà xoay người, bước đến bên mắc áo gỗ góc gian xưởng.

Tiểu Bạch nín thở nhìn theo. Dưới bóng nắng chiều tà đỏ ối đang hắt qua khe cửa liếp, người thợ già tám mươi ba tuổi cởi bỏ chiếc tạp dề da dính đầy cặn sáp cháy, cẩn thận lấy xuống bộ áo lam xám bằng vải gai mộc mạc nhưng phẳng phiu, sạch sẽ nhất của mình, chậm rãi mặc vào người.

Bạn thích truyện này?

Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!

Hãy là người đầu tiên để lại đánh giá cho tác phẩm này.