Chương 19: Nồi Cơm Xóm Núi

Từng hồi kẻng đồng ngân vang từ phía thung lũng giục giã bước chân đoàn người rời khỏi sườn đồi Ba Khe. Khớp gối bên phải của ông Thạc được quân y tiêm thuốc giảm đau và nẹp chặt bằng băng gạc trắng nên cảm giác buốt nhức đã dịu đi nhiều. Nương theo cây gậy tre già, bước chân ông dẫu còn tập tễnh nhưng đã vững chãi hơn trên nền đất đỏ. Nắng ban mai rải hanh vàng khắp triền đồi, xua tan hơi lạnh ẩm ướt của cơn bão số 5.

Đi bên cạnh ông, Thiếu úy Nam với bao súng K54 bên hông cùng các chiến sĩ công binh vai khoác ba lô, vác cuốc xẻng lấm lem bùn đất, vừa đi vừa rôm rả trò chuyện cùng bà con xóm núi. Qua con dốc thoai thoải rợp bóng bạch đàn, con đường liên thôn mở ra trước mắt. Nơi cổng nhà văn hóa hợp tác xã Khe Đỏ, lá cờ đỏ sao vàng cùng cờ búa liềm phấp phới trên ngọn cột tre cao vút. Hàng trăm người dân đã đứng chật kín hai bên đường đón đợi.

Vừa thấy bóng dáng bộ đội và người thương binh gác đập, tiếng reo vui bỗng bùng lên rộn rã “Bộ đội về rồi! Bác Thạc gác đập về rồi bà con ơi!”

Tiếng vỗ tay giòn giã xen lẫn tiếng cười nói hân hoan. Những bàn tay chai sần vội vã vươn ra nắm lấy vạt áo bạc màu của Nam, đỡ lấy cánh tay gầy guộc của ông Thạc. Một cụ già run run ôm chầm lấy Nam, nghẹn ngào “Nghe tin nước hồ dâng sát đỉnh đập, cả làng chỉ biết ôm nhau khóc. Nhờ có các chú bộ đội, nhờ bác Thạc thức trắng đêm ghìm giữ con nước mà dân làng mới giữ được mái nhà, giữ được mạng sống!”

Đứng trên bậc tam cấp trước sân nhà văn hóa, ông Thạc tựa nhẹ vào lan can gỗ, phóng tầm mắt bao quát toàn cảnh thung lũng. Dưới vòm trời quang đãng, lòng chảo ba xã Khe Đỏ, Khe Xanh và Thượng Sơn hiện lên bình yên đến nao lòng. Hơn mười lăm nghìn người dân hoàn toàn an lành; những mái tranh nép mình dưới rặng cau xanh thẫm, khói bếp bảng lảng bay lên trong sớm mai thanh bình.

Trải dài ngút ngàn từ chân đồi ra tận mép sông Lô là cánh đồng lúa mùa đang kỳ trổ đòng ngậm sữa. Biển lúa dập dờn sóng biếc dưới nắng hanh, không một vạt nào bị gãy đổ hay ngập chìm trong bùn đỏ. Bẫy cát lọc ngược ba lớp tại cọc số 7 cùng các cửa van xả lũ được khơi thông đã chặn đứng dòng nước dữ, bảo vệ trọn vẹn vựa lương thực nuôi sống hàng vạn con người. Ký ức kinh hoàng về thảm họa vỡ đập trong cuốn tiểu thuyết Dòng Nước Cuộn Đỏ giờ đây đã hoàn toàn lùi vào dĩ vãng.

Bên trong gian nhà văn hóa, những chiếc bàn gỗ tạp được ghép ngay ngắn, trải mấy manh chiếu cói thơm mùi cói mới. Mùi hương ngào ngạt của gạo mới quyện cùng làn khói lam lan tỏa, đánh thức cơn đói cồn cào sau một đêm dầm mình trong bùn lạnh.

Bữa cơm mừng công thời bao cấp đạm bạc mà chan chứa ân tình: những niêu đất đựng cơm gạo tám xoan dẻo quánh do bà con chắt chiu gom góp, đĩa cá suối kho tương gừng vàng óng đậm đà, bát canh rau sắn chua nấu tép thanh mát, cùng đĩa muối vừng giã mịn thơm nức.

Bà Mán quấn chiếc khăn rằn sờn chỉ, thoăn thoắt xới từng bát cơm đầy có ngọn trao cho từng người. Đến lượt ông Thạc, bà Mán cẩn thận gắp khúc cá nạc nhất đặt lên trên, đôi mắt rưng rưng “Bác Thạc ăn nhiều cho lại sức! Đêm qua bác ngâm nước bùn, chân cẳng đau buốt thế kia mà cứ gồng mình chỉ huy công việc. Cả làng biết ơn bác nhiều lắm. Bát cơm này là tấm lòng của bà con, bác đừng ngại nhé!”

Đón lấy bát cơm nóng hổi, bàn tay già nua của ông Thạc khẽ run lên vì xúc động:“Cảm ơn bà con. Giữ được đập, giữ được mùa màng là nhờ sức của tất cả mọi người, của các đồng chí công binh và sự tiếp tế kịp thời của xóm núi.”

Bữa cơm diễn ra rộn rã tiếng cười. Nam cùng các chiến sĩ công binh vừa nhai miếng cháy cơm giòn rụm vừa hào hứng kể lại khoảnh khắc ngụp lặn phá khúc gỗ mục nghẽn van xả lũ cho bà con nghe. Tiếng cười nói xua tan mọi mệt mỏi, nhọc nhằn của những giờ phút đối đầu sinh tử.

Sau bữa ăn, bà Mán bưng ra ấm đất nung hãm đầy nước chè vối. Nước vối vàng rơm sóng sánh, khói bốc nghi ngút tỏa hương thơm ấm nồng, át đi cái lạnh còn sót lại trong huyết quản.

Nam kéo chiếc ghế đẩu lại ngồi sát bên cạnh ông Thạc, cẩn thận mở cuốn sổ tay quân sự bìa bạt màu cỏ úa. Từng trang giấy kẻ ô đã phủ kín những dòng chữ nắn nót ghi lại sơ đồ thủy lực, định luật thấm Darcy và tỉ lệ phân tầng cốt liệu của bẫy cát lọc ngược Terzaghi mà ông Thạc truyền dạy đêm qua.

Nam lật từng trang, lễ phép chỉ vào một sơ đồ mặt cắt “Bác Thạc, cháu đã ghi chi tiết ba lớp vật liệu lọc ở cọc số 7: cát vàng hạt thô một đến hai milimét dày mười lăm phân, sỏi nhỏ năm đến hai mươi milimét dày hai mươi phân, và sỏi cuội đá dăm nẹp rọ tre hai mươi lăm phân. Nhưng cháu muốn hỏi thêm, việc khống chế gradient thủy lực thực tế xuống dưới ngưỡng tới hạn có phải là yếu tố tiên quyết để triệt tiêu cát chảy không ạ?”

Nhìn ánh mắt rực sáng của người lính trẻ, ông Thạc khẽ mỉm cười. Ông đón lấy chiếc bút chì mộc trên tay Nam, vạch thêm vài đường mũi tên biểu diễn hướng tiêu tán áp lực nước lỗ rỗng “Đúng thế, đồng chí Nam. Khi gradient thấm thực tế nhỏ hơn gradient tới hạn, dòng thấm không còn đủ động năng cuốn trôi hạt đất mịn. Nhưng bài học lớn nhất là phải tôn trọng quy luật tự nhiên. Đất và nước không bao giờ biết nói dối. Người làm kỹ sư nếu vì thành tích hay tư túi mà bưng bít sai phạm, coi thường quy chuẩn thì sớm muộn cũng phải trả giá bằng sinh mạng con người.”

Nam chăm chú lắng nghe rồi cẩn thận ghi từng lời vào lề sổ. Giữa hai thế hệ kỹ sư công trình — một già một trẻ, một người dạn dày kinh nghiệm cơ học đất và một sĩ quan công binh nhiệt huyết — dường như không còn khoảng cách. Lương tâm khoa học và trách nhiệm đã gắn kết hai con người ấy bền chặt như thầy và trò, như cha và con.

Nắng chiều ngả vàng rực rỡ qua khung cửa sổ gỗ. Ngoài sân, lũ trẻ con ríu rít đuổi bắt quanh gốc bàng, tiếng cười hòa vào lời bàn tán xôn xao về vụ mùa bội thu sắp tới của các xã viên.

Ngồi giữa vòng tay đùm bọc của đồng bào, ông Thạc nhấp một ngụm nước vối ấm. Vị ngọt chát nơi đầu lưỡi mang theo hơi ấm nồng đượm của tình người. Trong khoảnh khắc ấy, tâm hồn người giáo sư từng xuyên vào trang sách lạ lẫm bỗng tìm thấy bến đỗ an yên tuyệt đối. Mọi ngỡ ngàng ban đầu đã hoàn toàn tan biến. Ông không còn là kẻ độc hành gánh vác số phận bi thảm của nhân vật phụ, mà đã thực sự hòa nhập máu thịt với đất và người Ba Khe, thuộc về thời đại 1986 gian lao mà thắm đượm nghĩa tình.

Trời ngả bóng hoàng hôn trên những mái tranh sườn đồi. Bất chợt, từ phía ngã ba đường dẫn vào sân hợp tác xã, tiếng còi xe Zin ba cầu vang lên từng hồi dồn dập, giục giã. Tiếng máy nổ rền vang phá tan không gian tĩnh lặng, báo hiệu giờ phút tổ công binh của Nam phải chia tay công trường Ba Khe để lên đường nhận nhiệm vụ cơ động mới.

Bạn thích truyện này?

Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!

Hãy là người đầu tiên để lại đánh giá cho tác phẩm này.