Chương 9: Tiếng Trống Bến Phà

Tiếng thím Ba Đực hét chói tai vừa dứt thì tiếng chân giậm bình bịch trên nền đất phù sa đã rầm rập tràn tới đầu xóm Cái Rơm. Bụi đất mù mịt bốc lên dưới những đôi giày da đóng đinh sắt láng coóng. Ký Bửu chống cây batoong bịt bạc đi đầu, gương mặt phị ra đỏ gay vì rượu và hơi bốc của tiền tài, theo sau là bốn tên lính tập vác súng trường gắn lưỡi lê sáng loáng, cùng nửa chục phu phen lực lưỡng vác búa tạ, dây thừng bện vỏ dừa to bằng bắp tay.

Bà Lài run lẩy bẩy, hai hàm răng va vào nhau lập cập, đôi bàn tay khẳng khiu quờ quạng níu chặt mép vạt áo bà ba của ông Khiêm. Ông vội vã nắm lấy bàn tay lạnh buốt của người xưa, giọng trầm ấm ghìm lại nỗi xót xa “Đừng sợ nghen cô Lài. Ngồi yên trong này, có Khiêm giữ cửa, hổng ai đụng tới cọng tóc của cô đâu đa.”

Nói đoạn, ông Khiêm chầm chậm vịn then cửa đứng dậy. Khớp gối nhức buốt vì dầm mưa hôm trước khẽ khục khặc, nhưng tấm lưng già nua vẫn cố gượng thẳng. Ông với lấy khúc gậy tre đực nhẵn bóng dựng bên vách đất, cẩn thận bước từng bước ra thềm.

Vừa ra tới khoảng sân đất nện, mắt ông Khiêm đã thấy đám phu phen hùng hổ quăng cuộn dây thừng xuống mé nước, rồi chĩa thẳng búa tạ vào chái bếp lợp lá dừa nước của thím Ba Đực. Ký Bửu hất hàm, giọng trịch thượng sang sảng “Quăng dây tròng vô mấy cây cột tràm mau! Giật sập cái chái bếp lấn rạch này trước cho qua, lấy lối cho xe kéo chở đá hộc với cát vô đổ nền! Đứa nào lôi thôi, lính tập cứ việc trói gô lại quăng lên bến chợ!”

Thím Ba Đực ôm chặt lấy cột chái bếp, mặt mày tái mét nhưng miệng vẫn la bài hải “Mấy ông đừng có thất đức vậy chớ! Cơm gạo nuôi đàn con nhỏ trông cả vô cái nồi nước lèo này, hạn mười ngày chưa dứt mà nỡ lòng nào đập phá sớm vậy thầy Ký?”

Một tên phu to xác vung búa tạ toan nện vào chân cột tràm. Ngay khoảnh khắc ngàn cân treo sợi tóc, một bóng đen vạm vỡ từ dưới mé sông phóng vọt lên bờ.

“Buông cái búa ra!”

Sáu Thuyền hai tay cầm chắc cây dầm chèo gỗ sao dài ngoằng, quét ngang một đường nghe vun vút. Cán dầm gạt phăng đầu búa tạ dội ngược ra sau, khiến tên phu giật nẩy mình lùi lại ba bước. Sáu Thuyền đứng chắn ngang trước mặt thím Ba Đực, ngực trần phập phồng, ánh mắt tóe lửa nhìn trừng trừng vào đám người nhà sở “Hôm nay đứa nào dám giật một cọc tràm, bẻ một lá dừa của xóm này, thằng Sáu này liều mạng với tụi bây!”

Ký Bửu cười khẩy, xoay tròn chiếc batoong, mắt nheo lại khinh bỉ “Thằng chèo đò dọc hèn mạt! Mày tưởng cầm cây dầm chèo mà cản được lệnh của quan trên hả? Lính tập đâu, chĩa súng bắt nó cho qua!”

Hai tên lính tập lập tức lách lên, mũi súng trường đen ngòm cùng lưỡi lê sắc lạnh chĩa thẳng vào ngực Sáu Thuyền. Không khí căng như sợi dây gai sắp đứt. Nhưng Sáu Thuyền không lùi. Anh dộng mạnh chuôi dầm xuống nền đất phù sa nghe một tiếng “thình” khô khốc, rồi cất giọng sang sảng hét lớn “Bà con xóm Cái Rơm ơi! Bến phà Sa Giang là mồ hôi nước mắt của ông cha mình! Giữ đất bà con ơi!”

Tiếng thét của anh vừa vang lên thì từ căn nhà sàn số mười hai của bác thợ hồ Bảy Cảnh, một hồi mõ thùng gỗ vang lên dồn dập: “Cắc… cắc… tùng… tùng… tùng!”

Liền sau đó, khắp hai mươi bảy nóc nhà sàn nghèo ven rạch Cái Rơm bỗng rộ lên những âm thanh chát chúa, cuộn trào. Những người đàn ông lực lưỡng vác đòn xóc, cán phảng nhảy túa ra ngõ. Đàn bà, con nít mang mâm đồng, nồi niêu, thùng thiếc ra bậu cửa gõ liên hồi. Tiếng khua kim loại xen lẫn tiếng thùng gỗ vang dội như một hồi trống trận bến phà, dội từ mặt rạch Cái Rơm lan xa ra tận vàm Sa Giang mênh mông sóng nước. Mặt sông bỗng chốc sôi sùng sục. Mấy chiếc ghe thương hồ ghé bến vội vã neo dầm, cánh chèo đò dọc đò ngang đồng loạt ngưng tay, ngóng mắt nhìn về phía bến phà đang dậy sóng.Hơn bốn mươi người dân xóm phà, từ những người thợ hồ Tân Quy Đông tay còn lấm vôi vữa đến những bà mẹ bồng con nhỏ, đồng loạt kéo tới vây kín chung quanh chái bếp thím Ba Đực. Đám phu vác búa tạ thấy khí thế hừng hực bèn chùn chân, ngơ ngác nhìn nhau không dám manh động.

Ký Bửu thoáng giật mình, mặt mày xanh lét rồi lại tím rịm vì tức tối. Hắn quát lớn “Lũ làm loạn! Mấy người muốn đi tù hết hay sao mà dám tụ tập chống lại trắc địa nhà nước?”

“Thầy Ký nói sai rồi!”

Một giọng nói trầm đục, từ tốn nhưng mang sức nặng ngàn cân bất chợt vang lên từ phía sau đám đông. Mọi người tự giác giãn ra hai bên, nhường lối cho một bóng dáng cao gầy, tóc bạc phơ như mây trời mùa cạn.

Ông Nhâm Vĩnh Khiêm chống khúc tre mộc từng bước chậm rãi bước tới. Đôi mắt tinh anh của người thợ già gần trăm tuổi nhìn thẳng vào gương mặt bóng nhờn của Ký Bửu. Dừng lại cách tên thư ký sở ba bước chân, ông giơ bàn tay chai sần đầy vệt bột đá mài lên, giọng đanh thép “Đất này là đất cắm sào sinh sống của dân nghèo từ thời mở cõi, hổng phải bãi hoang muốn cướp là cướp! Chiều hôm qua, chính tay tôi cùng thằng Sáu đây đã gióng dây gai dọi từ cội đa chợ Cây Da Dầu xuyên qua triền sông theo ngấn nước ròng. Đường tim lộ trên bản đồ trắc địa mà thầy cầm bị bẻ cong lượn sâu vô đất thịt xóm Cái Rơm hơn năm trượng!”

Dân làng nghe vậy liền ồ lên, tiếng bàn tán phẫn nộ lại bùng lên như lửa gặp dầu. Ký Bửu chột dạ, giật thót mình lùi lại nửa bước, nhưng vẫn cố gân cổ cãi chày cãi cối “Lão già lẩm cẩm! Lão biết cái giống gì về trắc địa khoa học của Tây mà dám nói xằng nói bậy? Bản đồ này do kỹ sư sở công chánh vẽ đàng hoàng, có dấu mộc đỏ, lão đừng có đem mớ dây gai đo mò ra mà mị dân!”

“Tôi đắp hồ, đúc đá mài từ hồi cha mẹ thầy còn chưa sinh ra trên đời!” Ông Khiêm dằn mạnh đầu gậy xuống đất, tiếng gỗ gõ vào nền đất sét nghe chắc nịch. “Viên kỹ sư trưởng người Pháp vẽ bản đồ con lộ cái thẳng tắp từ mé chợ chạy dọc bờ sông Tiền, chớ hổng có kỹ sư nào điên khùng bẻ cong con đường đâm sầm vô mé rạch sình lầy để chừa lại bãi bồi phẳng phiu cho thương buôn Chợ Lớn mở kho hàng riêng! Thầy ăn tiền lót tay của Chệt Lợi, định mượn tay quan trên để cướp bến phà xóm nghèo, việc này tôi đã cho người chèo xuồng qua rạch chuyển lời tới dinh Tỉnh trưởng rồi!”

Bị một ông lão chín mươi chín tuổi bóc trần tim đen ngay giữa thanh thiên bạch nhật, Ký Bửu tím tái mặt mày, mồ hôi hột rịn ra ướt đẫm cổ áo veste lụa. Sự nhục nhã biến thành cơn thịnh nộ điên cuồng. Hắn biết nếu việc đo đạc bị đình chỉ để viên kỹ sư trưởng người Pháp kiểm định lại, bao nhiêu bạc lót tay béo bở của Chệt Lợi sẽ tan thành mây khói, mà cái ghế thư ký sở của hắn cũng khó lòng giữ nổi.

Hắn nghiến răng kèn kẹt, giơ cao cây batoong bịt bạc chỉ thẳng vào mặt ông Khiêm, gầm lên the thé “Lão già sống dai thành tinh! Dám vu khống cho người nhà nước hả? Tụi bây đâu, xốc súng lên! Thằng nào, con nào cản đường cứ nện thẳng tay cho qua! Coi cái xóm rách này ai to hơn súng đạn!”

Bốn tên lính tập nghe lệnh liền lên đạn rôm rốp, hăm hở giương mũi súng bước tới toan xô ngã ông Khiêm và đám thanh niên. Sáu Thuyền lập tức đứng chắn trước mặt ông Khiêm, nắm chặt dầm chèo nghênh chiến, bà con xóm phà cũng siết chặt vòng vây, tiếng mõ thùng và xoong chảo lại khua vang dội đất trời.

Thấy ông lão trăm tuổi vẫn đứng sừng sững như cội đa già không hề chớp mắt, Ký Bửu giận run bần bật. Cặp mắt ti hí của hắn đảo quanh, bất chợt tia nhìn độc ác dừng lại nơi túp lều rách nát xiêu vẹo cách đó mười bước chân, nơi bà lão tóc bạc phơ đang co ro ôm lấy bậu cửa khóc thút thít.

Một nụ cười tàn nhẫn, méo mó nhếch lên trên khóe môi béo nị. Ký Bửu hất hàm chỉ thẳng vào gian chòi rách của bà Lài, rít qua kẽ răng “Đập nát cái chòi mụ còng này trước cho qua, coi lão già sống dở chết dở này cản được ai!”

Bạn thích truyện này?

Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!

Hãy là người đầu tiên để lại đánh giá cho tác phẩm này.