Chương 8: Đóa Sen Đá Mài Đầu Tiên

Lời quả quyết về Cột mốc số Ba vừa dứt, gió sông Tiền dường như cũng chững lại giữa bến nước mênh mang. Bà con chòm xóm đưa mắt nhìn nhau, tia hy vọng le lói bừng lên trong từng đôi mắt trũng sâu vì âu lo. Sáu Thuyền siết chặt nắm tay, ngực phập phồng “Dạ trúng rồi! Có cột mốc của ông Bác làm chứng, tụi nó hết đường chối quanh!”

Nhưng ông Khiêm khẽ xua tay, từng ngón tay thô ráp cuộn mối dây gai cất lại vào tráp. Ông hiểu lòng người đang như lửa đốt, song mũi vàm Cái Rơm bồi lắng hơn sáu chục năm qua, muốn đào bới tìm mốc đâu phải chuyện một sớm một chiều. Huống hồ trong gian chòi lá kia, người thương thuở hoa niên của ông vẫn đang thảng thốt từng cơn vì tiếng đe nẹt hồi sớm.

Ông quay sang dặn dò Sáu Thuyền “Chuyện đào mốc phải tính cho kỹ, đợi con nước ròng kiệt mới dò chân móng được. Giờ con tạt qua chợ Cây Da Dầu ngóng xem động tĩnh bên sở ra sao. Còn tôi về chòi với cô Lài, để bà ấy thui thủi một mình, tôi hổng an lòng.”

Chống gậy từng bước chậm rãi trên con đường đất lầy lội, ông Khiêm trở vào gian chòi lá ven rạch. Bà Lài vẫn ngồi thu lu nơi góc chõng tre, hai cánh tay gầy guộc ôm chặt lấy đầu gối, lưng còng rạp xuống như chiếc lá chuối khô trước gió bấc. Nghe tiếng bước chân lạo xạo trên ngạch cửa, bà giật mình co rúm, đôi mắt đùng đục ngước nhìn quanh quất, giọng run bần bật “Quan… quan lính tới phá nhà bắt tui hả… Chú thợ ơi, đừng dỡ chòi của tui mà…”

Cơn ho rút ruột lại ập đến làm lồng ngực bà rung lên từng chập nghẹn ngào. Tim ông Khiêm thắt lại. Ông bước đến mé chõng, đặt cây gậy tựa vào vách nứa, rồi từ tốn ngồi xuống bên cạnh. Bàn tay chai sần ấm sực của ông nhẹ nhàng phủ lên mu bàn tay lạnh ngắt của bà lão “Hổng có ai bắt bớ cô Lài hết trơn. Có Khiêm ở đây rồi, chòi lá này vẫn nguyên vẹn. Đừng sợ nghen cô.”

Bà Lài chớp chớp hàng mi bạc, ngón tay run rẩy mân mê vạt áo ông, cơn ho dịu dần nhưng vẻ bàng hoàng vẫn chưa tan biến. Nhìn nét mặt ngơ ngác, lú lẫn của người xưa, ông Khiêm chợt nhớ lại thuở mười chín đôi mươi, cô thôn nữ bên vàm sông từng mê mẩn nhìn ông nhào vữa, nặn từng hoa văn phù điêu bên mé đình. Muốn gột rửa nỗi khiếp hãi trong lòng bà, chỉ có cách khơi dậy lại hơi ấm của những ngày tháng hoa niên tươi đẹp.

Ông Khiêm đứng dậy, kéo chiếc cối đá nhỏ và chiếc chậu đất nung ra ngay bậu cửa lộng gió sông. Từ thùng đồ nghề gỗ mù u mang theo, ông cẩn thận đong từng bát cát mịn sông Tiền đã đãi sạch tạp chất, bột đá cẩm thạch trắng muốt mịn màng như bột nếp, cùng một muỗng vôi ô dước ủ kỹ dẻo quánh.

“Cô Lài ngó tôi làm nè,” ông Khiêm khẽ cất tiếng, giọng trầm ấm như tiếng ru trưa hè. “Hôm nay tôi pha mẻ vữa non, nặn cho cô bông sen đá mài.”

Bà Lài ngơ ngác dời mắt khỏi vách lá, chầm chậm dán vào đôi tay ông.

Bàn tay người thợ già tuy đã có những vết đồi mồi và khớp xương nổi cộm, nhưng khi chạm vào vôi vữa liền trở nên nhịp nhàng, thuần thục lạ kỳ. Ông Khiêm dùng chiếc bay sắt mòn vẹt trộn đều bột đá cẩm thạch với cát mịn, rưới từng gáo nước mưa trong vắt rồi dùng bàn xoa gỗ trắc miết từng đường dẻo quánh. Mùi vôi ô dước nồng nồng quyện với mùi đá non và hơi bùn sông bốc lên thoang thoảng, thân thuộc đến nao lòng.

Bà Lài chầm chậm lần từng bước lại gần bậu cửa, ngồi bệt xuống ngạch gỗ, hai mắt mở to nhìn khối bột đá trắng ngà đang dần kết dính dưới tay ông. Nhìn vẻ chăm chú ấy, khóe môi ông Khiêm nở một nụ cười hiền hậu. Ông khẽ kể “Hồi năm Mậu Ngọ một ngàn tám trăm năm mươi tám, có anh thợ đắp hồ mới hăm ba tuổi, đem lòng thương cô gái xóm vườn mười chín tuổi hay chèo xuồng ba lá đi hái củ ấu ven sông. Anh thợ nghèo hổng có tiền mua vòng vàng đính ước, chỉ biết thức trắng mấy đêm liền bên mé rạch, lựa từng hạt cát mịn, giã từng mảnh đá cẩm thạch trắng tinh để đúc một đóa sen đá mài non tặng cô ấy…”

Giọng ông trầm đục, từng câu từng chữ mộc mạc trôi theo ngọn gió bấc, mang theo cả trời kỷ niệm của bảy mươi sáu năm dâu bể cách biệt.Bà Lài lặng đi. Bàn tay nhăn nheo, nổi đầy gân xanh của bà vô thức vươn ra, ngập ngừng chạm nhẹ vào khối bột đá mài mát rượi trong chậu đất. Cảm giác mịn màng, mát lành thấm qua da thịt dường như làm dịu hẳn cơn rát bỏng nơi cổ họng. Những ngón tay gầy guộc của bà run rẩy xoa xoa lớp bột trắng dẻo, đáy mắt mờ đục bỗng lay động những tia sáng mơ hồ “Mát… mát quá chừng… Giống… giống như bột hồ hồi đó…”

“Phải rồi, mát lắm đa,” ông Khiêm mỉm cười, giọng nghẹn lại vì xúc động.

Ông khéo léo dùng đầu mũi bay sắt tách một phần vữa dẻo, đặt vào lòng bàn tay rồi nắn tròn. Từng ngón tay già nua miết nhẹ mép vữa, uốn lượn từng đường gân mảnh dẻ, nặn thành một cánh hoa sen khum khum ôm lấy nhụy tròn. Đôi bàn tay cả đời gắn bó với đá sỏi và vôi vữa như đang dồn hết tình cảm sắt son, nhẫn nại vào từng thớ bột. Cánh hoa đầu tiên rồi cánh thứ hai lần lượt hiện ra, đều đặn, mịn màng và thanh thoát như vừa hé nở từ mặt nước mùa thu.

Bà Lài không còn run rẩy nữa. Bà ghé sát lại, chăm chú ngắm nghía từng cánh hoa đang thành hình, miệng lẩm bẩm những lời rời rạc “Đóa bông… đúc tặng cô Lài… đem gài đầu giường… hổng sợ mưa tạt…”

Nhìn nụ cười móm mém hiền hậu dần nở trên gương mặt nhăn nheo của bà, lòng ông Khiêm trào dâng một niềm an ủi vô bờ. Dẫu thời gian tàn nhẫn cướp đi thanh xuân và ký ức, dẫu giông bão cuộc đời xô đẩy hai mảnh đời phiêu dạt, thì hạt mầm yêu thương gieo từ thuở hoa niên vẫn âm thầm nảy nở dưới lớp tro tàn của năm tháng.

Đúng lúc đó, tiếng chân bước gấp gáp từ ngoài bờ rạch dồn dập vang lên. Sáu Thuyền quần xắn móng heo, mồ hôi nhễ nhại ướt đẫm manh áo bà ba đen, hớt hải chạy xộc vào trong chòi “Ông Bác ơi! Nguy to rồi ông Bác!”

Ông Khiêm cẩn thận đặt đóa sen đá non vừa thành hình lên miếng ván gỗ trắc, ngẩng đầu hỏi “Có chuyện chi mà chạy bạt mạng vậy con? Ngoài chợ ra sao?”

Sáu Thuyền th* d*c, hai tay vịn chặt vào khung cửa lá, giọng căm phẫn “Con vừa ra bến chợ nghe ngóng, thấy thằng Chệt Lợi ở Chợ Lớn vừa dắt tay Ký Bửu vô tiệm vàng bên phố! Tụi nó ăn tiền lót tay mấy chục đồng bạc xòe rồi! Thầy Ký hứa chắc như đinh đóng cột là nội trong ngày mốt sẽ san phẳng dãy nhà sàn xóm mình để giao bãi cát! Nó còn hăm he sẽ đưa lính tập xuống đập phá trước mấy cái chái bếp lấn ra bờ rạch để thị uy!”

Nghe nhắc tới lính tập và đập phá, bà Lài đang ngắm đóa sen đá bỗng giật nẩy mình, bàn tay co quắp lại, đôi mắt lại thoáng hiện vẻ sợ sệt. Ông Khiêm khẽ nắm lấy tay bà vỗ về, ánh mắt nhìn Sáu Thuyền đanh lại “Thằng Ký Bửu dám làm càn vậy sao? Hạn mười ngày chưa dứt, lệnh của quan Tỉnh trưởng chưa phê xuống giấy trắng mực đen mà nó dám…”

Lời ông Khiêm chưa dứt thì từ mé bến rạch bên ngoài bỗng vang lên tiếng la bài hải, the thé xé toạc buổi trưa yên ả. Tiếng thím Ba Đực thất thanh vọng lại “Bà con ơi! Cứu với! Tụi lính tập kéo súng kéo búa tới đầu xóm rồi! Tụi nó tới sớm hơn kỳ hạn rồi bà con ơi!”

Bạn thích truyện này?

Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!

Hãy là người đầu tiên để lại đánh giá cho tác phẩm này.